BÀI ĐỌC TRONG THÁNH LỄ CHÚA NHẬT LỄ LÁ VÀ TUẦN THÁNH NĂM A

29.3.2026 – CHÚA NHẬT LỄ LÁ

* LÀM PHÉP LÁ – Mt 21,1-11

“Chúc tụng Đấng nhân danh Chúa mà đến”.

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.

Khi các Ngài đến gần Giêrusalem, vào địa hạt Bếtphaghê, giáp núi Cây Dầu, Chúa Giêsu sai hai môn đệ đi  và bảo rằng: “Các con hãy đến làng trước mặt kia, sẽ gặp ngay một con lừa mẹ cột ở đó với con lừa con. Các con hãy mở dây, dẫn về đây cho Thầy và nếu có ai bảo các con điều gì thì hãy nói: “Chúa cần đến chúng, và Ngài sẽ gởi trả lại ngay”. Mọi việc này xảy ra để ứng nghiệm lời tiên tri đã phán: “Các ngươi hãy bảo thiếu nữ Sion rằng: Kìa vua ngươi nhân ái đến cùng ngươi, ngồi trên lừa mẹ và lừa con, là con của con vật chở đồ”. Các môn đệ ra đi và làm theo lời Chúa Giêsu dạy bảo. Hai môn đệ dẫn lừa mẹ và lừa con về, trải áo lên mình chúng và đặt Chúa ngồi lên trên. Phần đông dân chúng trải áo xuống đường, kẻ khác thì chặt nhành cây trải lối đi. Dân chúng kẻ thì đi trước, người theo sau tung hô rằng: “Hoan hô con vua Đavít, chúc tụng Đấng nhân danh Chúa mà đến; hoan hô trên các tầng trời”. Khi Ngài vào thành Giê-ru-sa-lem, thì cả thành phố náo động và nói rằng: “Người đó là ai vậy?”. Dân chúng trả lời rằng: “Người ấy là tiên tri Giêsu, xuất thân từ Nagiarét xứ Galilêa”.

Đó là lời Chúa.

THÁNH LỄ

BÀI ĐỌC I: Is 50, 4-7

“Tôi đã không giấu mặt mũi tránh những lời nhạo cười, nhưng tôi biết tôi sẽ không phải hổ thẹn”.

(Bài ca thứ ba về Người Tôi Tớ Chúa)

Bài trích sách Tiên tri Isaia.

Chúa đã ban cho tôi miệng lưỡi đã được huấn luyện, để tôi biết dùng lời nói nâng đỡ kẻ nhọc nhằn. Mỗi sáng Người đánh thức tôi, Người thức tỉnh tai tôi, để nghe lời Người giáo huấn. Thiên Chúa đã mở tai tôi, mà tôi không cưỡng lại và cũng chẳng thối lui. Tôi đã đưa lưng cho kẻ đánh tôi, đã đưa má cho kẻ giật râu; tôi đã không che giấu mặt mũi, tránh những lời nhạo cười và những người phỉ nhổ tôi. Vì Chúa nâng đỡ tôi, nên tôi không phải hổ thẹn; nên tôi trơ mặt chai như đá, tôi biết tôi sẽ không phải hổ thẹn.

Ðó là lời Chúa.

ÐÁP CA: Tv 21, 8-9. 17-18a. 19-20. 23-24

Ðáp: Ôi Thiên Chúa! Ôi Thiên Chúa! sao Chúa đã bỏ con? (c. 2a)

1) Bao người thấy con đều mỉa mai con, họ bĩu môi, họ lắc đầu: “Hắn tin cậy Chúa, xin Ngài cứu hắn, xin Ngài giải gỡ hắn, nếu Ngài yêu thương”.

2) Ðứng quanh con là đàn ưng khuyển, một lũ côn đồ bao bọc lấy con. Chân tay con chúng đều chọc thủng, con có thể đếm được mọi đốt xương con.

3) Phần chúng thì nhìn xem con và vui vẻ, đem y phục của con chia sẻ với nhau, còn tấm áo dài, thì chúng rút thăm… Phần Ngài, lạy Chúa, xin chớ đứng xa con, ôi Ðấng phù trợ con, xin kíp ra tay nâng đỡ.

4) Con sẽ tường thuật danh Chúa cho các anh em, giữa nơi công hội, con sẽ ngợi khen Người. “Chư quân là người tôn sợ Chúa, xin hãy ca khen Chúa, toàn thể miêu duệ nhà Giacóp, hãy chúc tụng Người, hãy tôn sợ Người, hết thảy dòng giống Israel!” – Ðáp.

BÀI ĐỌC II: Pl 2, 6-11

“Người đã tự hạ mình; vì thế Thiên Chúa đã tôn vinh Người”.

Bài trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Philipphê.

Chúa Giêsu Kitô, tuy là thân phận Thiên Chúa, đã không nghĩ phải giành cho được ngang hàng với Thiên Chúa; trái lại, Người huỷ bỏ chính mình mà nhận lấy thân phận tôi đòi, đã trở nên giống như loài người, với cách thức bề ngoài như một người phàm. Người đã tự hạ mình mà vâng lời cho đến chết, và chết trên thập giá. Vì thế, Thiên Chúa đã tôn vinh Người, và ban cho Người một danh hiệu vượt trên mọi danh hiệu, để khi nghe tên Giêsu, mọi loài trên trời dưới đất và trong địa ngục phải quỳ gối xuống, và mọi miệng lưỡi phải tuyên xưng Ðức Giêsu Kitô là Chúa để Thiên Chúa Cha được vinh quang.

Ðó là lời Chúa.

Câu Xướng Trước Phúc Âm: Pl 2, 8-9

Chúa Kitô vì chúng ta, đã vâng lời cho đến chết, và chết trên thập giá. Vì thế, Thiên Chúa đã tôn vinh Người, và ban cho Người một danh hiệu vượt trên mọi danh hiệu.

Bài Thương Khó: Mt 26,14 – 27,66 (bài dài)

“Sự Thương Khó Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta”.

C: Người đọc Chung, Thánh Sử; S: Người đối thoại khác, hoặc Cộng đoàn. J: Chúa Giêsu

Bài Thương Khó Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, theo Thánh Matthêu.

Khi ấy, một trong nhóm Mười Hai, tên là Giuđa Iscariô, đi gặp các thượng tế và nói với họ: S. “Các ông cho tôi bao nhiêu, tôi nộp Người cho các ông?” C. Họ liền ấn định cho ba mươi đồng bạc. Và từ đó, hắn tìm dịp thuận tiện để nộp Người. Ngày thứ nhất tuần lễ ăn bánh không men, các môn đệ đến thưa Chúa Giêsu rằng: J. “Thầy muốn chúng con sửa soạn cho Thầy ăn Lễ Vượt Qua ở đâu?” C. Chúa Giêsu đáp: J. “Các con hãy vào thành, đến với một người kia nói rằng: Thầy bảo, giờ Ta đã gần, Ta sẽ mừng Lễ Vượt Qua với các môn đệ tại nhà ông”. C. Các môn đệ làm như Chúa Giêsu truyền và sửa soạn Lễ Vượt Qua. Chiều đến, Người ngồi bàn ăn với mười hai môn đệ. Và khi các ông đang ăn, Người nói: J. “Thầy nói thật với các con: có một người trong các con sẽ nộp Thầy”. C. Môn đệ rất buồn rầu và từng người bắt đầu hỏi Người: S. “Thưa Thầy, có phải con không?” C. Người trả lời rằng: J. “Kẻ giơ tay cùng chấm vào đĩa với Thầy, đó chính là kẻ nộp Thầy. Thực ra, Con Người sẽ ra đi như đã chép về Người, nhưng khốn cho kẻ sẽ nộp Con Người! Thà người đó đừng sinh ra thì hơn!” C. Giuđa, kẻ phản bội, cũng thưa Người rằng: S. “Thưa Thầy, có phải con chăng?” C. Chúa đáp: J. “Ðúng như con nói”. C. Vậy khi mọi người còn đang ăn, Chúa Giêsu cầm lấy bánh, đọc lời chúc tụng, bẻ ra và trao cho các môn đệ mà phán: J. “Các con hãy cầm lấy mà ăn, vì này là Mình Ta”. C. Ðoạn Người cầm lấy chén, tạ ơn, rồi trao cho các môn đệ mà phán: J. “Tất cả các con hãy uống chén này, vì này là Máu Ta, Máu Tân Ước, sẽ đổ ra cho nhiều người được tha tội. Thầy bảo các con: Từ nay, Thầy sẽ không còn uống chất nho này nữa cho đến ngày Thầy sẽ uống rượu mới cùng các con trong nước Cha Thầy”.

Sau khi hát thánh vịnh, Thầy trò liền lên núi Ôliu. Bấy giờ Chúa Giêsu bảo các ông: J. “Tất cả các con sẽ vấp phạm vì Thầy trong chính đêm nay, vì có lời chép rằng: “Ta sẽ đánh chủ chăn, và các chiên trong đoàn sẽ tan tác”. Nhưng sau khi Thầy sống lại, Thầy sẽ đến xứ Galilêa trước các con”. C. Phêrô liền thưa: S. “Dù tất cả vấp phạm vì Thầy, riêng con, con sẽ không bao giờ vấp phạm”. C. Chúa Giêsu đáp: J. “Thầy bảo thật con, chính đêm nay, trước khi gà gáy, con sẽ chối Thầy ba lần”. C. Phêrô lại thưa: S. “Dù có phải chết cùng Thầy, con sẽ không chối Thầy”. C. Và tất cả các môn đệ cùng nói như vậy.

Rồi Chúa Giêsu cùng đi với các ông đến một chỗ gọi là Ghếtsêmani, và Người bảo các môn đệ: J. “Các con hãy ngồi đây để Thầy đến đàng kia cầu nguyện”. C. Ðoạn Chúa đưa Phêrô và hai người con ông Giêbêđê cùng đi, Người bắt đầu cảm thấy buồn bực và sầu não. Lúc ấy, Người bảo các ông: J. “Linh hồn Thầy buồn sầu đến nỗi chết được; các con hãy ở lại đây và thức với Thầy”. C. Tiến xa hơn một chút, Người sấp mặt xuống, cầu nguyện và nói: J. “Lạy Cha, nếu được, xin cho Con khỏi chén này! Nhưng đừng như ý Con muốn, một theo ý Cha muốn”. C. Người trở lại cùng các môn đệ và thấy các ông đang ngủ, liền nói với Phêrô: J. “Chẳng lẽ các con không thức cùng Thầy được lấy một giờ ư? Hãy tỉnh thức và cầu nguyện để khỏi lâm cơn cám dỗ: vì tinh thần thì lanh lẹ, nhưng xác thịt thì yếu đuối”. C. Rồi Người lại đi cầu nguyện lần thứ hai mà rằng: J. “Lạy Cha, nếu chén này không thể qua đi được mà Con phải uống, thì xin theo ý Cha”. C. Ðoạn Người trở lại và thấy các ông còn ngủ, vì mắt các ông nặng trĩu. Người để mặc các ông và đi cầu nguyện lần thứ ba, vẫn lại những lời như trước. Sau đó Người trở lại với các môn đệ và bảo: J. “Bây giờ các con hãy ngủ và nghỉ ngơi đi! Này sắp đến giờ Con Người sẽ bị nộp trong tay những kẻ tội lỗi. Các con hãy chỗi dậy. Chúng ta hãy đi: này kẻ nộp Thầy đã tới gần”.

Người còn đang nói, thì đây, Giuđa, một trong nhóm mười hai, và cùng với y có lũ đông mang gươm giáo gậy gộc, do các thượng tế và kỳ lão trong dân sai đến. Vậy tên nội công đã dặn họ ám hiệu này: S. “Hễ tôi hôn người nào, thì đó chính là Người, các ông hãy bắt lấy”. C. Tức khắc Giuđa tới gần Chúa Giêsu và nói: S. “Chào Thầy”. C. Và nó hôn Người. Nhưng Chúa Giêsu bảo: J. “Hỡi bạn, bạn đến đây làm chi?” C. Lúc đó chúng xông tới, tra tay bắt Chúa Giêsu. Ngay sau đó, một trong những người vẫn theo Chúa Giêsu, giơ tay rút gươm và chém tên đầy tớ thầy thượng tế đứt một tai. Chúa Giêsu liền bảo: J. “Con hãy xỏ ngay gươm vào bao: vì tất cả những kẻ dùng gươm sẽ chết vì gươm. Nào con tưởng rằng Thầy không thể xin Cha Thầy và Ngài sẽ tức khắc gởi đến hơn mười hai cơ binh thiên thần sao? Mà như thế thì làm sao ứng nghiệm lời Kinh Thánh bảo: Sự thế phải như vậy?” C. Lúc đó Chúa Giêsu nói cùng đám đông rằng: J. “Các ngươi cầm gươm giáo gậy gộc đi bắt Ta như bắt tên cướp ư? Hằng ngày Ta ngồi trong đền thờ, giữa các ngươi, mà các ngươi không bắt Ta. Nhưng tất cả sự đó xảy ra là để ứng nghiệm lời các tiên tri đã chép”. C. Bấy giờ các môn đệ bỏ Người và chạy trốn hết.

Những kẻ đã bắt Chúa Giêsu điệu Người đến thầy thượng tế Caipha. Nơi đây các luật sĩ và kỳ lão đã hội họp. Phêrô theo Người xa xa cho tới dinh thầy thượng tế. Rồi ông vào trong dinh ngồi cùng bọn đầy tớ, xem việc xảy ra thế nào. Vậy các thượng tế và tất cả công nghị tìm chứng gian cáo Chúa Giêsu để lên án xử tử Người. Và họ đã không tìm được, mặc dù đã có một số đông chứng nhân ra mắt. Sau cùng, hai người làm chứng gian đến khai rằng: S. “Người này đã nói: Ta có thể phá đền thờ Thiên Chúa và xây cất lại trong ba ngày”. C. Bấy giờ thầy thượng tế đứng lên nói: S. “Ông không trả lời gì về các điều những người này đã cáo ông ư?” C. Nhưng Chúa Giêsu làm thinh, nên thầy thượng tế bảo Người: S. “Nhân danh Thiên Chúa hằng sống, ta truyền cho ông hãy nói cho chúng ta biết: Ông có phải là Ðấng Kitô, Con Thiên Chúa không?” C. Chúa Giêsu trả lời: J. “Ông đã nói đúng. Nhưng Ta nói thật với các ông: rồi đây các ông sẽ xem thấy Con Người ngự bên hữu Ðấng Toàn Năng, và sẽ đến trên đám mây”. C. Bấy giờ thầy thượng tế xé áo mình ra và nói: S. “Nó đã nói lộng ngôn! Chúng ta còn cần gì đến nhân chứng nữa? Ðây các ngài vừa nghe lời lộng ngôn. Các ngài nghĩ sao?” C. Họ đáp lại:

“Nó đáng chết!” C. Bấy giờ chúng nhổ vào mặt Người, đấm đánh Người, lại có kẻ tát vả Người mà nói rằng: S. “Hỡi Kitô, hãy bói xem, ai đánh ông đó?” C. Còn Phêrô ngồi ở ngoài sân. Một đầy tớ gái lại gần và nói: S. “Ông nữa, ông cũng đã theo Giêsu người xứ Galilêa”. C. Nhưng ông chối trước mặt mọi người mà rằng: S. “Tôi không hiểu chị muốn nói gì?” C. Khi ông lui ra đến cổng, một đầy tớ gái khác thấy ông, liền nói với những người ở đó: S. “Ông này cũng theo Giêsu người Nadarét”. C. Ông thề mà chối rằng: S. “Tôi không biết người ấy”. C. Một lúc sau, mấy người đứng đó lại gần mà nói với Phêrô rằng: S. “Ðúng rồi, ngươi cũng thuộc bọn ấy. Vì chính giọng nói của ngươi tiết lộ tông tích ngươi”. C. Bấy giờ ông rủa mà thề rằng: ông không hề biết người ấy. Tức thì gà gáy. Phêrô nhớ lại lời Chúa Giêsu đã nói: “Trước khi gà gáy, con sẽ chối Ta ba lần”, và ông ra ngoài khóc lóc thảm thiết.

Trời vừa sáng, các thượng tế và kỳ lão trong dân hội họp bày mưu giết Chúa Giêsu. Họ trói Người và điệu đi nộp cho tổng trấn Phongxiô Philatô. Bấy giờ Giuđa, kẻ nộp Người, thấy Người bị kết án thì hối hận, đem ba mươi đồng bạc trả lại cho các thượng tế và kỳ lão mà nói rằng: S. “Tôi đã phạm tội vì nộp máu người công chính”. C. Nhưng họ trả lời: S. “Can chi đến chúng tôi! Mặc kệ anh!” C. Anh ta ném những đồng bạc đó vào trong đền thờ và ra đi thắt cổ. Các thượng tế lượm lấy bạc đó và nói: S. “Không nên để bạc này vào kho vì là giá máu”. C. Sau khi bàn bạc, họ lấy tiền đó mua thửa ruộng của người thợ gốm làm nơi chôn cất những người ngoại kiều. Bởi thế, ruộng ấy cho đến ngày nay được gọi là Haselđama, nghĩa là ruộng máu. Như vậy là ứng nghiệm lời tiên tri Giêrêmia nói: “Chúng đã lấy ba mươi đồng bạc là giá do con cái Israel đã mặc cả mà bán Ðấng cao trọng. Và họ mang tiền đó mua ruộng của người thợ gốm như lời Chúa đã truyền cho tôi”.

Vậy Chúa Giêsu đứng trước quan tổng trấn, và quan hỏi Người rằng: S. “Ông có phải là Vua dân Do-thái không?” C. Chúa Giêsu đáp: J. “Ông nói đúng!” C. Nhưng khi các thượng tế và kỳ lão tố cáo Người thì Người không trả lời chi cả. Bấy giờ Philatô bảo Người: S. “Ông không nghe thấy tất cả những điều họ tố cáo ông sao?” C. Chúa Giêsu cũng không đáp lại về một điều nào, khiến quan tổng trấn hết sức ngạc nhiên.

Vào mỗi dịp lễ trọng, quan tổng trấn có thói quen phóng thích cho dân một người tù tuỳ ý họ xin. Lúc ấy có một phạm nhân nổi tiếng tên là Baraba. Vậy Philatô nói với dân chúng đã tụ tập lại đó rằng: S. “Các ngươi muốn ta phóng thích ai, Baraba hay Giêsu mà người ta vẫn gọi là Kitô?” C. Quan biết rõ chỉ vì ghen ghét mà chúng đã nộp Người. Vậy trong khi quan ngồi xét xử, bà vợ sai người nói cùng quan rằng: S. “Xin ông đừng can thiệp gì đến vụ người công chính ấy, vì hôm nay trong một giấc chiêm bao, tôi đã phải đau khổ rất nhiều vì người ấy”. C. Nhưng các thượng tế và kỳ lão xúi giục dân xin tha Baraba và giết Chúa Giêsu. Quan lại lên tiếng hỏi họ: S. “Trong hai người đó các ngươi muốn ta phóng thích ai?” C. Họ thưa: S. “Baraba!” C. Philatô hỏi: S. “Vậy đối với Giêsu gọi là Kitô, ta phải làm gì?” C. Họ đồng thanh đáp: S. “Ðóng đinh nó đi!” C. Quan lại hỏi: S. “Nhưng người này đã làm gì nên tội?” C. Chúng càng la to: S. “Ðóng đinh nó đi!” C. Bấy giờ Philatô thấy mất công, lại thêm náo động, nên ông lấy nước rửa tay trước mặt dân chúng và nói: S. “Ta vô can về máu người công chính này, mặc kệ các ngươi”. C. Toàn dân đáp: S. “Hãy để cho máu nó đổ trên chúng tôi và trên con cái chúng tôi”. C. Bấy giờ quan phóng thích Baraba cho họ, còn Chúa Giêsu thì trao cho họ đánh đòn, rồi đem đi đóng đinh vào thập giá.

Bấy giờ lính tổng trấn liền điệu Chúa Giêsu vào trong công đường và tập họp cả cơ đội lại chung quanh Người. Họ lột áo Người ra, khoác cho Người một áo choàng đỏ, rồi quấn một vòng gai đặt trên đầu Người và trao vào tay mặt Người một cây sậy, họ quỳ gối trước mặt Người mà nhạo báng rằng: S. “Tâu vua dân Do-thái!” C. Ðoạn họ khạc nhổ vào Người và lấy cây sậy đập trên đầu Người. Khi đã chế nhạo Người xong, họ lột áo choàng đỏ ra, mặc y phục cũ lại cho Người và điệu Người đi đóng đinh vào thập giá. Lúc đi ra, họ gặp một người thành Xyrênê tên là Simon, liền bắt ông vác đỡ thánh giá cho Người. Họ đi đến một nơi gọi là Golgotha, nghĩa là Núi Sọ. Họ cho Người uống rượu hoà với mật đắng, Người chỉ nếm qua nhưng không muốn uống. Khi đã đóng đinh Người trên thập giá rồi, họ rút thăm chia nhau áo Người, để ứng nghiệm lời tiên tri rằng: “Chúng đã chia nhau áo Ta, còn áo ngoài của Ta, chúng đã bắt thăm”. Rồi họ ngồi lại canh Người. Họ cũng đặt trên đầu Người bản án viết như sau: Người này là Giêsu, vua dân Do-thái. Lúc ấy, cùng với Người, họ đóng đinh hai tên trộm cướp, một tên bên hữu, một tên bên tả. Những người đi ngang qua, lắc đầu chế diễu Người và nói: S. “Kìa, ngươi là kẻ phá đền thờ và xây cất lại trong ba ngày, hãy tự cứu mình đi, nếu là Con Thiên Chúa, thì hãy xuống khỏi thập giá đi!” C. Các thượng tế cùng luật sĩ và kỳ lão cũng chế nhạo Người rằng: S. “Nó đã cứu được kẻ khác mà không cứu nổi chính mình! Nếu nó là vua dân Do-thái, thì bây giờ hãy xuống khỏi thập giá đi để chúng ta sẽ tin nó. Nó đã trông cậy Thiên Chúa, nếu Ngài thương nó thì bây giờ Ngài hãy cứu nó, vì nó nói: “Ta là Con Thiên Chúa!” C. Cả những tên cướp bị đóng đinh trên thập giá với Người cũng nhục mạ Người như thế. Từ giờ thứ sáu đến giờ thứ chín, khắp cả xứ đều tối tăm mù mịt. Vào khoảng giờ thứ chín thì Chúa Giêsu kêu lớn tiếng: J. “Eli, Eli, lema sabachtani!” C. Nghĩa là: J. “Lạy Chúa con, lạy Chúa con! sao Chúa bỏ con!” C. Có mấy người đứng đó nghe vậy nói rằng: S. “Nó gọi tiên tri Elia”. C. Lập tức một người trong bọn chạy đi lấy một miếng bọt biển, nhúng đầy dấm và cuốn vào đầu cây sậy và đưa lên cho Người uống. Nhưng có kẻ lại bảo: S. “Hãy chờ xem Elia có đến cứu nó không?” C. Ðoạn Chúa Giêsu lại kêu lên lớn tiếng và trút hơi thở.

(Quỳ gối thinh lặng thờ lạy trong giây lát)

Bỗng nhiên màn đền thờ xé ra làm đôi từ trên xuống dưới, đất chuyển động, đá nứt ra. Các mồ mả mở tung và xác của nhiều vị thánh đã qua đời được sống lại. Và sau khi Chúa sống lại, họ ra khỏi mồ, vào thành thánh và hiện ra cùng nhiều người. Còn viên sĩ quan và những kẻ cùng ông canh giữ Chúa Giêsu, thấy đất chuyển động và các sự xảy ra, thì thất kinh sợ hãi và nói: S. “Ðúng người này là Con Thiên Chúa”.

Ở đó cũng có nhiều phụ nữ đứng xa xa; họ là những người đã theo giúp Chúa Giêsu từ xứ Galilêa. Trong số đó có Maria Mađalêna, Maria mẹ của Giacôbê và Giuse, và mẹ các người con của Giêbêđê. Tới chiều có một người giàu sang quê ở Arimathia tên là Giuse, cũng đã làm môn đệ Chúa Giêsu, ông đi gặp Philatô và xin xác Chúa Giêsu. Bấy giờ Philatô truyền giao xác cho ông. Vậy ông Giuse lấy xác, liệm trong một khăn sạch, và đặt trong mồ mà ông đã cho đục trong đá, rồi ông lăn một tảng đá lớn lấp cửa mồ lại và ra về. Còn Maria Mađalêna và bà Maria kia cùng ngồi đó nhìn vào mộ. Hôm sau, tức là sau ngày chuẩn bị mừng lễ, các thượng tế và biệt phái đến dinh Philatô trình rằng: S. “Thưa ngài, chúng tôi nhớ, lúc sinh thời tên bịp bợm ấy có nói: “Sau ba ngày, Ta sẽ sống lại”. Vậy xin ngài truyền lệnh cho canh mộ đến ngày thứ ba, kẻo môn đệ nó lấy trộm xác rồi phao đồn với dân chúng rằng: Người đã từ cõi chết sống lại! Và như thế, sự gian dối này lại còn tai hại hơn trước”. C. Philatô trả lời: S. Các ông đã có lính canh thì cứ đi mà canh như ý. C. Họ liền đi và đóng ấn niêm phong tảng đá và cắt lính canh giữ mồ.

Ðó là lời Chúa.        (+ Không hôn sách)

 

30.3.2026 – THỨ HAI TUẦN THÁNH

BÀI ĐỌC I: Is 42, 1-7

“Người sẽ không lớn tiếng; không ai nghe tiếng người ở công trường”.

Bài trích sách Tiên tri Isaia.

Này là tôi tớ Ta mà Ta nâng đỡ, là người Ta tuyển chọn, Ta hài lòng về người. Ta ban Thần trí Ta trên người. Người sẽ xét xử chư dân. Người sẽ không lớn tiếng, không thiên vị ai, không ai nghe tiếng người ở công trường. Người không bẻ gãy cây lau bị giập, không dập tắt tim đèn còn khói. Người sẽ xét xử trong công lý. Người sẽ không buồn phiền, không nao núng, cho đến khi đặt công lý trên mặt đất, vì các đảo mong đợi lề luật người. Chúa là Thiên Chúa đã phán như thế, Người là Ðấng đã tác tạo và mở rộng các tầng trời, đã củng cố mặt đất và các sản phẩm của nó, đã ban hơi thở cho dân sống trên mặt đất và ban sức sống cho những kẻ trên đó. Ta là Chúa, Ta đã gọi con trong công lý, đã cầm lấy tay con, đã gìn giữ con, đã đặt con thành giao ước của dân, và nên ánh sáng của chư dân, để con mở mắt cho người mù, đưa ra khỏi tù những người bị xiềng xích, đưa ra khỏi ngục những người ngồi trong tối tăm.

Ðó là lời Chúa.

ÐÁP CA: Tv 26, 1. 2. 3. 13-14

Ðáp: Chúa là sự sáng, và là Ðấng cứu độ tôi (c. 1a).

1) Chúa là sự sáng, là Ðấng cứu độ, tôi sợ chi ai? Chúa là Ðấng phù trợ đời tôi, tôi sợ gì ai?

2) Khi những đứa ác xông vào để xả thịt tôi, bọn thù ghét tôi sẽ xiêu té và ngã gục.

3) Nếu thiên hạ đồn binh hạ trại để hại tôi, lòng tôi sẽ không kinh hãi; nếu thiên hạ gây chiến với tôi, tôi vẫn tự tin.

4) Tôi tin rằng tôi sẽ được nhìn xem những ơn lành của Chúa trong cõi nhân sinh. Hãy chờ đợi Chúa, hãy sống can trường, hãy phấn khởi tâm hồn và chờ đợi Chúa!

Câu Xướng Trước Phúc Âm:

Kính chào Vua chúng con: Chỉ có nhà Vua là người thương hại đến những lỗi lầm của chúng con.

PHÚC ÂM: Ga 12, 1-11

“Hãy để mặc cô ấy làm công việc chỉ về ngày táng xác Ta”.

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.

Sáu ngày trước Lễ Vượt Qua, Chúa Giêsu đến làng Bêtania, nơi Ladarô đã chết được Người cho sống lại. Tại đây người ta dọn bữa cho Người ăn. Martha hầu bàn. Còn Ladarô cũng là một trong những kẻ đồng bàn với Người. Bấy giờ Maria lấy một cân dầu thơm, dầu cam tùng hảo hạng, và xức chân Chúa Giêsu, rồi lấy tóc mình mà lau. Hương thơm toả đầy nhà. Một môn đệ là Giuđa Iscariô, kẻ sẽ phản nộp Người, liền nói: “Sao không bán dầu thơm đó lấy ba trăm đồng mà cho người nghèo khó?” Hắn nói thế không phải vì lo lắng cho người nghèo khó đâu, mà vì hắn là tên trộm cắp, lại được giữ túi tiền, nên bớt xén các khoản tiền người ta bỏ vào đó. Vậy Chúa Giêsu nói: “Hãy để mặc cô ấy làm công việc chỉ về ngày táng xác Ta. Vì các ngươi sẽ có người nghèo luôn bên cạnh các ngươi, còn Ta, các ngươi sẽ không gặp Ta mãi đâu”.

Có đám đông người Do-thái biết Người đang ở đó, nên tuôn đến, không những vì Chúa Giêsu, mà còn để thấy Ladarô, kẻ đã chết được Người cho sống lại. Thế là các Thượng tế quyết định giết luôn cả Ladarô, vì tại ông mà nhiều người Do-thái đã bỏ họ và tin theo Chúa Giêsu.

Ðó là lời Chúa.

 

31.3.2026 – THỨ BA TUẦN THÁNH

BÀI ĐỌC I: Is 49, 1-6

“Ta đã làm cho con nên sự sáng các dân tộc, để con trở thành ơn cứu độ Ta ban cho đến tận cùng trái đất”.

(Bài Ca thứ hai của người Tôi tớ Chúa)

Bài trích sách Tiên tri Isaia.

Hỡi các đảo, hãy nghe tôi đây; hỡi các dân tộc miền xa xăm, hãy chú ý: Chúa đã kêu gọi tôi từ khi tôi còn trong lòng mẹ, đã nhớ đến tên tôi khi tôi còn ở trong bụng mẹ. Người đã làm cho miệng tôi nên như lưỡi gươm sắc bén, đã bảo vệ tôi dưới bóng cánh tay Người, đã làm cho tôi nên như mũi tên nhọn, và đã ẩn giấu tôi trong ống đựng tên. Và Người đã phán cùng tôi: “Hỡi Israel, ngươi là tôi tớ Ta, vì Ta sẽ được vinh hiển nơi ngươi”. Và tôi thưa: “Tôi đã vất vả mất công vô cớ, tôi đã phí sức vô ích; nhưng công lý của tôi ở nơi Chúa; và phần thưởng của tôi ở nơi Thiên Chúa”. Và bây giờ Chúa phán: “Người là Ðấng đã tác tạo tôi thành tôi tớ Người, khi tôi còn trong lòng mẹ, để đem Giacóp về cho Người, và quy tụ Israel chung quanh Người. Tôi được vinh hiển trước mặt Chúa, và Thiên Chúa là sức mạnh tôi. Người đã phán: “Con là tôi tớ Ta, để tái lập các chi họ Giacóp, để dẫn đưa các người Israel sống sót trở về; này đây Ta làm cho con nên ánh sáng các dân tộc, để con trở thành ơn cứu độ Ta ban cho đến tận bờ cõi trái đất”.

Ðó là lời Chúa.

ÐÁP CA: Tv 70, 1-2. 3-4a. 5-6ab. 15 và 17

Ðáp: Miệng con sẽ loan truyền sự Chúa công minh (c. 15).

1) Lạy Chúa, con tìm đến nương nhờ Ngài, xin đừng để con tủi hổ muôn đời. Theo đức công minh Chúa, xin cứu nguy và giải thoát con, xin ghé tai về bên con và giải cứu.

2) Xin trở nên thạch động để con dung thân, và chiến luỹ vững bền hầu cứu độ con: vì Chúa là Thạch Ðầu, là chiến luỹ của con. Lạy Chúa con, xin cứu con khỏi tay đứa ác.

3) Bởi Ngài là Ðấng con mong đợi, thân lạy Chúa; lạy Chúa, Ngài là hy vọng của con tự hồi thanh xuân. Ngay từ trong bụng mẹ, con đã nép mình vào Chúa, từ trong thai mẫu, Chúa là Ðấng bảo vệ con.

4) Miệng con sẽ loan truyền sự Chúa công minh, và suốt ngày kể ra ơn Ngài giúp đỡ, thực con không sao mà kể cho cùng. Lạy Chúa, Chúa đã dạy con từ hồi niên thiếu, và tới bây giờ con còn kể những sự lạ của Ngài.

Câu Xướng Trước Phúc Âm:

Kính lạy Vua chúng con, Ðấng vâng lời Chúa Cha, Ngài đã bị dẫn đi để chịu đóng đinh vào thập giá, như con chiên hiền lành bị dẫn đi giết.

PHÚC ÂM: Ga 13, 21-33. 36-38

“Một người trong các con sẽ nộp Thầy… Trước khi gà gáy con đã chối Thầy ba lần”.

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.

Khi ấy, (Chúa Giêsu đang ngồi ăn với các môn đệ), tâm hồn Người bị xao xuyến, nên Người tuyên bố: “Thật, Thầy nói thật cho các con biết, một người trong các con sẽ nộp Thầy”. Các môn đệ nhìn nhau phân vân không biết Người nói về ai. Có một môn đệ được Chúa Giêsu yêu quý, đang ở bàn ăn gần lòng Chúa Giêsu. Vậy Phêrô làm hiệu cho môn đệ ấy và nói: “Hỏi xem Thầy nói về ai đó”. Môn đệ ấy nghiêng mình sát ngực Chúa Giêsu và hỏi Người: “Thưa Thầy, ai vậy?” Chúa Giêsu trả lời: “Thầy chấm miếng bánh trao cho ai là người đó”. Và Người chấm một miếng bánh trao cho Giuđa, con Simon Iscariô. Ăn miếng bánh rồi, Satan nhập vào hắn. Chúa Giêsu nói với hắn: “Con tính làm gì thì làm mau đi”. Nhưng những người đang ngồi ăn không một ai hiểu được vì sao Người lại nói với hắn như vậy. Có nhiều người tưởng tại Giuđa giữ túi tiền, nên Chúa Giêsu bảo hắn: Hãy mua những gì chúng ta cần dùng trong dịp lễ, hoặc Người bảo hắn bố thí cho người nghèo. Vậy sau khi nhận miếng bánh đó, Giuđa liền đi ra. Bấy giờ là đêm tối. Khi Giuđa đi rồi, Chúa Giêsu phán: “Bây giờ Con Người được vinh hiển, và Thiên Chúa đã được vinh hiển nơi Người. Nếu Thiên Chúa được vinh hiển nơi Người, thì Thiên Chúa lại cho Người được vinh hiển nơi chính Mình, và Thiên Chúa sẽ cho Người được vinh hiển! Các con yêu quý, Thầy chỉ còn ở với các con một ít nữa. Các con sẽ tìm Thầy, và như Thầy đã nói với người Do-thái: “Nơi Ta đi, các ngươi không thể đến được”, nay Thầy cũng nói với các con như vậy”. Simon Phêrô hỏi Người: “Thưa Thầy, Thầy đi đâu?” Chúa Giêsu trả lời: “Nơi Thầy đi, nay con chưa thể theo tới đó được, nhưng sau này con sẽ theo Thầy”.

Phêrô thưa lại: “Tại sao con lại không theo Thầy ngay bây giờ được! Con sẽ liều mạng sống con vì Thầy”. Chúa Giêsu nói: “Con liều mạng sống vì Thầy ư? Thật, Thầy nói thật cho con biết: trước khi gà gáy, con đã chối Thầy ba lần”.

Ðó là lời Chúa.

01.04.2026 – THỨ TƯ TUẦN THÁNH
Ca nhập lễ
Pl 2, 10.8.11
Khi nghe tên Giêsu, mọi loài trên trời dưới đất, và trong hỏa
ngục phải quỳ gối xuống: vì Chúa đã tự hạ mình, vâng lời cho đến
chết, và chết trên thập giá, vì thế, Đức Giê-su Ki-tô là chúa, để
Thiên Chúa Cha được vinh quang.
Bài Ðọc 1
Is 50, 4-9a
“Tôi đã không che mặt tránh những người chửi mắng,
nhưng tôi biết tôi sẽ không phải thẹn thùng”.
(Bài ca thứ ba của người Tôi Tớ Chúa)
Trích sách Tiên tri Isaia.
Chúa đã ban cho tôi miệng lưỡi đã được huấn luyện, để tôi biết
dùng lời nói nâng đỡ kẻ nhọc nhằn. Mỗi sáng Người đánh thức tôi,
Người thức tỉnh tai tôi, để nghe lời Người giáo huấn. Thiên Chúa đã
mở tai tôi mà tôi không cưỡng lại và cũng chẳng thối lui. Tôi đã đưa
lưng cho kẻ đánh tôi, đã đưa má cho kẻ giật râu, tôi đã không che
mặt giấu mày, tránh những lời nhạo cười và những người phỉ nhổ
tôi. Vì Chúa nâng đỡ tôi, nên tôi không hổ thẹn: nên tôi trơ mặt chai
như đá, tôi biết tôi sẽ không phải hổ thẹn. Ðấng xét tôi vô tội ở gần
tôi, ai còn tranh tụng với tôi được, chúng ta hầu toà. Ai là kẻ thù
địch của tôi, hãy đến đây! Này đây Thiên Chúa bênh đỡ tôi, ai dám
kết tội tôi?
Ðó là lời Chúa. 
Ðáp Ca
Tv 68, 8-10. 21bcd-22. 31 và 33-34
Ð. Lạy Chúa, xin nhậm lời con theo lượng cả đức từ bi, đây là
lúc biểu lộ tình thương (c. 14c-b).
1) Sở dĩ vì Chúa mà con chịu nhục, và thẹn thò làm nhơ nhuốc
mặt con. Con bị những người anh em coi như khách lạ, bị những
người con cùng một mẹ xem như kẻ ngoại lai. Sự nhiệt tâm lo việc
nhà Chúa khiến con mòn mỏi, điều tủi nhục người ta nhục mạ Chúa
đổ trên mình con.
Ð. Lạy Chúa, xin nhậm lời con theo lượng cả đức từ bi, đây là
lúc biểu lộ tình thương (c. 14c-b).
2) Con mong chờ người cảm thương, nhưng không có, mong
chờ người an ủi, nhưng chẳng thấy đâu. Cơm con ăn, chúng pha mật
đắng, con khát, thì chúng cho uống dấm chua.
Ð. Lạy Chúa, xin nhậm lời con theo lượng cả đức từ bi, đây là
lúc biểu lộ tình thương (c. 14c-b).
3) Con sẽ xướng bài ca ngợi khen danh Chúa, và con sẽ chúc
tụng Ngài với bài tri ân. Các bạn khiêm cung, hãy nhìn coi và hoan
hỉ, các bạn tìm kiếm Chúa, lòng các bạn hãy hồi sinh: vì Chúa nghe
những người cơ khổ, và không chê bỏ con dân của Ngài bị bắt cầm
tù.
Ð. Lạy Chúa, xin nhậm lời con theo lượng cả đức từ bi, đây là
lúc biểu lộ tình thương (c. 14c-b).
Câu Xướng Trước Phúc Âm
Kính lạy Vua chúng con, chỉ có Ngài là Ðấng thương hại đến
những lỗi lầm của chúng con. 
Phúc Âm
Mt 26, 14-25
“Con Người ra đi như đã được ghi chép sẵn từ trước,
nhưng khốn thay cho kẻ sẽ làm cho Ngài bị phản nộp”.
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.
Khi ấy, một trong nhóm Mười Hai tên là Giuđa Iscariô, đi gặp
các thượng tế và thưa với họ: “Các ông cho tôi bao nhiêu, tôi nộp
Người cho các ông?” Họ liền ấn định cho ba mươi đồng bạc. Và từ
đó, hắn tìm dịp thuận tiện để nộp Người.
Ngày thứ nhất trong tuần lễ ăn Bánh không men, các môn đệ
đến thưa Chúa Giêsu rằng: “Thầy muốn chúng con sửa soạn cho
Thầy ăn Lễ Vượt Qua ở đâu?” Chúa Giêsu đáp: “Các con hãy vào
thành đến với một người kia, và nói rằng: Thầy bảo, giờ Ta đã gần,
Ta sẽ mừng Lễ Vượt Qua với các môn đệ tại nhà ông”. Các môn đệ
làm như Chúa Giêsu đã truyền và sửa soạn Lễ Vượt Qua.
Chiều đến, Người ngồi bàn ăn với mười hai môn đệ. Và khi các
ông đang ăn, Người nói: “Thầy nói thật với các con: có một người
trong các con sẽ nộp Thầy”. Môn đệ rất buồn rầu và từng người bắt
đầu hỏi Người: “Thưa Thầy, có phải con không?” Người trả lời:
“Kẻ giơ tay cùng chấm vào đĩa với Thầy, đó chính là kẻ sẽ nộp
Thầy. Thật ra, Con Người sẽ ra đi như đã chép về Người, nhưng
khốn cho kẻ nộp Con Người, thà kẻ đó đừng sinh ra thì hơn!”
Giuđa kẻ phản bội cũng thưa Người rằng: “Thưa Thầy, có phải
con chăng?” Chúa đáp: “Ðúng như con nói”.
Ðó là lời Chúa.

02.04.2026 – THỨ NĂM TUẦN THÁNH (BUỔI SÁNG)
THÁNH LỄ LÀM PHÉP DẦU
Ca nhập lễ
Chúa Giê-su Ki-tô đã làm cho chúng ta trở nên vương quốc và
tư tế của Thiên Chúa, Cha của Người. Nguyện chúc Người được
vinh quang và quyền lực muôn đời. Amen.
Bài Ðọc 1
Is 61, 1-3a. 6a. 8b-9
“Chúa đã xức dầu cho tôi,
Người đã sai tôi đem tin mừng cho người nghèo khó,
và cho họ dầu hoan lạc”.
Trích sách Tiên tri Isaia.
Thánh Thần Chúa ngự trên tôi: Vì Chúa đã xức dầu cho tôi;
Người đã sai tôi đem tin mừng cho người nghèo khó, băng bó
những tâm hồn đau thương; báo tin ân xá cho những kẻ bị lưu đày,
phóng thích cho những tù nhân; công bố năm hồng ân của Thiên
Chúa, và ngày báo oán của Thiên Chúa chúng ta; an ủi mọi kẻ ưu
phiền, đem cho các kẻ buồn phiền ở Sion triều thiên thay tro bụi,
dầu vui mừng thay tang chế, áo hân hoan thay tâm hồn sầu muộn.
Còn các ngươi, các ngươi sẽ được gọi là tư tế của Chúa, là thừa
tác viên của Thiên Chúa chúng ta. Ta sẽ trung thành thưởng công
cho chúng, sẽ thiết lập với chúng một giao ước vĩnh cửu. Dòng dõi
chúng sẽ được nổi danh giữa các dân tộc, miêu duệ chúng sẽ được
biết đến giữa chư dân. Tất cả những ai thấy họ, đều nhận biết họ là
dòng dõi được Chúa chúc phúc.
Ðó là lời Chúa. 
Ðáp Ca
Tv 88, 21-22. 25 và 27
Ð. Lạy Chúa, con sẽ ca ngợi tình thương của Chúa tới muôn
đời (c. 2a).
1) Ta đã gặp Ðavit, tôi tớ của Ta, Ta đã xức dầu thánh của Ta
cho người, để tay Ta bang trợ người luôn mãi, và cánh tay Ta củng
cố thân danh Người.
Ð. Lạy Chúa, con sẽ ca ngợi tình thương của Chúa tới muôn
đời (c. 2a).
2) Thành tín và ân sủng của Ta, hằng ở với người, và nhân danh
Ta, sức mạnh người tăng thêm mãi. Chính người sẽ thưa cùng Ta:
“Chúa là Cha con, là Thiên Chúa và là Ðá Tảng cứu độ của con”
Ð. Lạy Chúa, con sẽ ca ngợi tình thương của Chúa tới muôn
đời (c. 2a).
Bài Ðọc 2
Kh 1, 5-8
“Người đã làm cho chúng ta trở nên vương quốc
và tư tế của Thiên Chúa, Cha của người”.
Trích sách Khải Huyền của Thánh Gioan.
Nguyện chúc cho anh em được ân sủng và bình an của Chúa
Giêsu Kitô, là chứng tá trung thành, là trưởng tử kẻ chết, là thủ lãnh
các vua trần thế, là Ðấng đã yêu thương chúng ta, Người đã dùng
máu Người mà rửa chúng ta sạch mọi tội lỗi, và đã làm cho chúng ta
trở nên vương quốc và tư tế của Thiên Chúa, Cha của Người.
Nguyện chúc Người được vinh quang và quyền lực muôn đời.
Amen.
Kìa, Người đến trong đám mây, mọi con mắt sẽ nhìn thấy
Người, và cả những kẻ đã đâm Người cũng nhìn thấy Người, các
chủng tộc trên địa cầu sẽ than khóc Người. Thật như vậy. Amen.
Chúa là Thiên Chúa, Ðấng đang có, đã có, và sẽ đến, là Ðấng
Toàn Năng phán: “Ta là Alpha và Ômêga, là nguyên thuỷ và là cứu
cánh”. Ðó là lời Chúa. 
Câu Xướng Trước Phúc Âm
Is 61, 1
Thánh Thần Chúa ngự trên tôi: Người đã sai tôi đem tin mừng
cho người nghèo khó.
Phúc Âm
Lc 4, 16-21
“Thánh Thần Chúa ngự trên tôi, vì Ngài xức dầu cho tôi”.
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.
Khi ấy, Chúa Giêsu trở về Nadarét, nơi Người sinh trưởng, và
theo thói quen của Người, thì ngày Sabbat, Người vào hội đường.
Người đứng dậy để đọc sách. Người ta trao cho Người sách tiên tri
Isaia. Mở sách ra, Người gặp ngay đoạn chép rằng: Thánh Thần
Chúa ngự trên tôi, vì Ngài xức dầu cho tôi, sai tôi đi rao giảng Tin
Mừng cho người nghèo khó, thuyên chữa những tâm hồn sám hối,
loan truyền sự giải thoát cho kẻ bị giam cầm, cho người mù được
trông thấy, trả tự do cho những kẻ bị áp bức, công bố năm hồng ân
và ngày khen thưởng.
Người gấp sách lại, trao cho thừa tác viên, và ngồi xuống. Mọi
người trong hội đường đều chăm chú nhìn Người. Người bắt đầu
nói với họ: “Hôm nay ứng nghiệm đoạn Kinh Thánh mà tai các
ngươi vừa nghe”.
Ðó là lời Chúa.

TAM NHẬT VƯỢT QUA
THỨ NĂM TUẦN THÁNH (THÁNH LỄ CHIỀU)
KỶ NIỆM BỮA TIỆC LY CỦA CHÚA
Ca nhập lễ
x. Ga 6, 14
Chúng ta phải được vinh dự nơi thập giá Đức Giê-su Ki-tô,
Chúa chúng ta, Người là sự cứu thoát, sự sống lại của chúng ta, nhờ
Người chúng ta được cứu độ và được giải thoát.
Bài Ðọc 1
Xh 12, 1-8. 11-14
“Những chỉ thị về bữa Tiệc Vượt qua”.
Trích sách Xuất Hành.
Trong những ngày ấy, Chúa phán cùng Môsê và Aaron ở đất
Ai-cập rằng: Tháng này các ngươi phải kể là tháng đầu năm, tháng
thứ nhất. Hãy nói với toàn thể cộng đồng con cái Israel rằng: “Mùng
mười tháng này, ai nấy phải bắt một chiên con, mỗi gia đình, mỗi
nhà một con. Nếu nhà ít người, không ăn hết một con chiên, thì phải
mời người láng giềng đến nhà cho đủ số người để ăn một con chiên.
Chiên đó không được có tật gì, phải là chiên đực, được một năm. Có
bắt dê con cũng phải làm như thế.
Vậy phải để dành cho đến ngày mười bốn tháng này, rồi vào lúc
chập tối, toàn thể cộng đồng con cái Israel sẽ giết nó, lấy máu bôi
lên khung cửa những nhà có ăn thịt chiên. Ðêm ấy sẽ ăn thịt nướng
với bánh không men và rau đắng. Phải ăn như thế này: Phải thắt
lưng, chân đi dép, tay cầm gậy và ăn vội vã: vì đó là ngày Vượt Qua
của Chúa.
Ðêm ấy Ta sẽ đi qua xứ Ai-cập, sẽ giết các con đầu lòng trong
xứ Ai-cập, từ loài người cho đến súc vật, và Ta sẽ trừng phạt chư
thần xứ Ai-cập: vì Ta là Chúa. Máu bôi trên nhà các ngươi ở, sẽ là
dấu hiệu; và khi thấy máu, Ta sẽ đi qua mà tha cho các ngươi, và
các ngươi sẽ không bị tai ương tác hại khi Ta giáng hoạ trên xứ Ai
cập. Các ngươi hãy ghi nhớ ngày ấy, làm lễ tưởng niệm, và phải
 mừng ngày đó trọng thể kính Thiên Chúa. Các ngươi sẽ lập lễ này
để mừng vĩnh viễn muôn đời”.
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca
Tv 115, 12-13. 15-16bc. 17-18
Ð. Chén chúc tụng là sự thông hiệp Máu Chúa Kitô (x. 1 Cr 10,
16).
1) Tôi lấy gì dâng lại cho Chúa để đền đáp những điều Ngài
ban tặng cho tôi? Tôi sẽ lãnh chén cứu độ, và tôi sẽ kêu cầu danh
Chúa.
Ð. Chén chúc tụng là sự thông hiệp Máu Chúa Kitô (x. 1 Cr 10,
16).
2) Trước mặt Chúa, thật là quý hoá cái chết của những bậc
thánh nhân Ngài. Con là tôi tớ Ngài, con trai của nữ tỳ Ngài, Ngài
đã bẽ gãy xiềng xích cho con.
Ð. Chén chúc tụng là sự thông hiệp Máu Chúa Kitô (x. 1 Cr 10,
16).
3) Con sẽ hiến dâng Chúa lời ca ngợi làm sinh lễ, và con sẽ kêu
cầu danh Chúa. Con sẽ giữ trọn lời khấn xin cùng Chúa, trước mặt
toàn thể dân Ngài.
Ð. Chén chúc tụng là sự thông hiệp Máu Chúa Kitô (x. 1 Cr 10,
16). 
Bài Ðọc 2
1 Cr 11, 23-26
“Mỗi khi anh em ăn và uống,
anh em loan truyền việc Chúa chịu chết”.
Trích thư thứ nhất của Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu
Côrintô.
Anh em thân mến, phần tôi, tôi đã lãnh nhận nơi Chúa điều mà
tôi đã truyền lại cho anh em, là Chúa Giêsu trong đêm bị nộp,
Người cầm lấy bánh và tạ ơn, bẻ ra và phán: “Các con hãy lãnh
nhận mà ăn, này là Mình Ta, sẽ bị nộp vì các con: Các con hãy làm
việc này mà nhớ đến Ta. Cùng một thể thức ấy, sau bữa ăn tối,
Người cầm lấy chén, và phán: “Chén này là Tân ước trong Máu Ta;
mỗi khi các con uống, các con hãy làm việc này mà nhớ đến Ta”. Vì
mỗi khi anh em ăn bánh và uống chén này, anh em loan truyền việc
Chúa chịu chết, cho tới khi Chúa lại đến”.
Ðó là lời Chúa.
Câu Xướng Trước Phúc Âm
Ga 13, 34
Chúa phán: “Thầy ban cho các con một giới răn mới, là các con
hãy yêu thương nhau, như Thầy đã yêu thương các con”. 
Phúc Âm
“Ngài yêu thương họ đến cùng”.
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.
Ga 13, 1-15
Trước ngày Lễ Vượt Qua, Chúa Giêsu biết đã đến giờ Mình
phải bỏ thế gian mà về cùng Chúa Cha, Người vốn yêu thương
những kẻ thuộc về mình còn đang ở thế gian, thì đã yêu thương họ
đến cùng. Sau bữa ăn tối, ma quỷ gieo vào lòng Giuđa Iscariô, con
Simon, ý định nộp Người. Người biết rằng Chúa Cha đã trao phó
mọi sự trong tay mình, và vì Người bởi Thiên Chúa mà đến và sẽ
trở về cùng Thiên Chúa. Người chỗi dậy, cởi áo, lấy khăn thắt lưng,
rồi đổ nước vào chậu; Người liền rửa chân cho các môn đệ và lấy
khăn thắt lưng mà lau.
Vậy Người đến chỗ Simon Phêrô, ông này thưa Người rằng:
“Lạy Thầy, Thầy định rửa chân cho con ư?” Chúa Giêsu đáp: “Việc
Thầy làm bây giờ con chưa hiểu, nhưng sau sẽ hiểu”. Phêrô thưa lại:
“Không đời nào Thầy sẽ rửa chân cho con”. Chúa Giêsu bảo: “Nếu
Thầy không rửa chân cho con, con sẽ không được dự phần với
Thầy”. Phêrô liền thưa: “Vậy xin Thầy hãy rửa không những chân
con, mà cả tay và đầu nữa”. Chúa Giêsu nói: “Kẻ mới tắm rồi chỉ
cần rửa chân, vì cả mình đã sạch. Tuy các con đã sạch, nhưng không
phải hết thảy đâu”. Vì Người biết ai sẽ nộp Người nên mới nói:
“Không phải tất cả các con đều sạch đâu”.
Sau khi đã rửa chân cho các ông, Người mặc áo lại, và khi đã
trở về chỗ cũ, Người nói: “Các con có hiểu biết việc Thầy vừa làm
cho các con chăng? Các con gọi Ta là Thầy và là Chúa thì phải lắm,
vì đúng thật Thầy như vậy. Vậy nếu Ta là Chúa và là Thầy mà còn
rửa chân cho các con, thì các con cũng phải rửa chân cho nhau. Vì
Thầy đã làm gương cho các con để các con cũng bắt chước mà làm
như Thầy đã làm cho các con”.
Ðó là lời Chúa.

03.04.2026 – THỨ SÁU TUẦN THÁNH
KỶ NIỆM CUỘC KHỔ NẠN CỦA CHÚA
Bài Ðọc 1
Is 52, 13-53, 12
“Người đã bị thương tích vì tội lỗi chúng ta”.
(Bài ca thứ tư của người Tôi Tớ Chúa)
Trích sách Tiên tri Isaia.
Này tôi tớ Ta sẽ được cao minh, sẽ vinh thăng tấn phát, cao cả
tuyệt vời. Cũng như nhiều người đã kinh ngạc, vì thấy người tàn tạ
mất hết vẻ người, dung nhan người cũng không còn nữa, cũng thế,
muôn dân sẽ sửng sốt, các vua không còn biết nói chi trước mặt
người. Vì họ sẽ thấy việc chưa ai kể cho mình, sẽ biết điều mình
chưa hề được nghe.
Ai mà tin được điều chúng ta nghe? Và Chúa đã tỏ ra sức mạnh
cho ai? Người sẽ lớn lên trước mặt Ngài như một chồi non, như một
rễ cây, tự đất khô khan. Người chẳng còn hình dáng, cũng chẳng
còn sắc đẹp để chúng ta nhìn ngắm, không còn vẻ bên ngoài, để
chúng ta yêu thích; bị người đời khinh dể như kẻ thấp hèn nhất, như
kẻ đớn đau nhất, như kẻ bệnh hoạn, như một người bị che mặt và bị
khinh dể, bởi đó, chúng ta không kể chi đến người.
Thật sự, người đã mang lấy sự đau yếu của chúng ta, người đã
gánh lấy sự đau khổ của chúng ta. Mà chúng ta lại coi người như kẻ
phong cùi, bị Thiên Chúa đánh phạt và làm cho nhuốc hổ. Nhưng
người đã bị thương tích vì tội lỗi chúng ta, bị tan nát vì sự gian ác
chúng ta. Người lãnh lấy hình phạt cho chúng ta được bình an, và
bởi thương tích người mà chúng ta được chữa lành. Tất cả chúng ta 
lang thang như chiên cừu, mỗi người một ngả. Chúa đã chất trên
người tội ác của tất cả chúng ta.
Người hiến thân vì người tình nguyện và không mở miệng như
con chiên bị đem đi giết, và như chiên non trước mặt người xén
lông, người thinh lặng chẳng hé môi. Do cưỡng bách và án lệnh,
người đã bị tiêu diệt; ai sẽ còn kể đến dòng dõi người nữa, bởi vì
người đã bị khai trừ khỏi đất người sống; vì tội lỗi dân Ta, Ta đánh
phạt người. Người ta định đặt mồ người giữa những kẻ gian ác,
nhưng khi chết, người được chôn giữa kẻ giàu sang, mặc dầu người
đã không làm chi bất chánh, và miệng người không nói lời gian dối.
Chúa đã muốn hành hạ người trong đau khổ.
Nếu người hiến thân làm lễ vật đền tội, người sẽ thấy một dòng
dõi trường tồn, và nhờ người, ý định Chúa sẽ thành tựu. Nhờ nỗi
khổ tâm của người, người sẽ thấy và sẽ được thoả mãn. Nhờ sự
thông biết, tôi tớ công chính của Ta sẽ công chính hoá nhiều người,
sẽ gánh lấy những tội ác của họ. Bởi đó, Ta trao phó nhiều dân cho
người, người sẽ chia chiến lợi phẩm với người hùng mạnh. Bởi vì
người đã hiến thân chịu chết và đã bị liệt vào hàng phạm nhân,
người đã mang lấy tội của nhiều người, và đã cầu bầu cho các phạm
nhân.
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca
Tv 30, 2 và 6. 12-13. 15-16. 17 và 25
Ð. Lạy Cha, con phó linh hồn con trong tay Cha (Lc 23, 46).
1) Lạy Chúa, con tìm đến nương nhờ Ngài, xin đừng để con
muôn đời tủi hổ, vì đức công minh Ngài, xin cứu chữa con! Con
phó thác tâm hồn trong tay Chúa, lạy Chúa, lạy Thiên Chúa trung
thành, xin cứu chữa con.
Ð. Lạy Cha, con phó linh hồn con trong tay Cha (Lc 23, 46). 
2) Con trở nên đồ ô nhục đối với những người thù, nên trò cười
cho khách lân bang, và mối lo sợ cho người quen biết; gặp con
ngoài đường, họ tránh xa con. Con bị người ta quên, không để ý tới,
dường như đã chết, con đã trở nên như cái bình bị vỡ tan.
Ð. Lạy Cha, con phó linh hồn con trong tay Cha (Lc 23, 46).
3) Phần con, lạy Chúa, con tin cậy ở Ngài, con kêu lên: Ngài là
Thiên Chúa của con! Vận mạng con ở trong tay Ngài, xin cứu gỡ
con khỏi tay quân thù và những người bách hại.
Ð. Lạy Cha, con phó linh hồn con trong tay Cha (Lc 23, 46).
4) Xin cho tôi tớ Chúa được thấy long nhan dịu hiền, xin cứu
sống con theo lượng từ bi của Chúa. Lòng chư vị hãy can trường
mạnh bạo, hết thảy chư vị là người cậy trông ở Chúa.
Ð. Lạy Cha, con phó linh hồn con trong tay Cha (Lc 23, 46).
Bài Ðọc 2
Dt 4, 14-16; 5, 7-9
“Người đã học vâng phục do những đau khổ Người chịu, và khi
hoàn tất, Người đã trở nên căn nguyên ơn cứu độ đời đời”.
Trích thư gởi tín hữu Do-thái.
Anh em thân mến, chúng ta có một thượng tế cao cả đã đi qua
các tầng trời, là Ðức Giêsu, Con Thiên Chúa, nên chúng ta hãy giữ
vững việc tuyên xưng đức tin của chúng ta. Vì chưng, không phải
chúng ta có thượng tế không thể cảm thông sự yếu đuối của chúng
ta, trái lại, Người đã từng chịu thử thách bằng mọi cách như chúng
ta, ngoại trừ tội lỗi.
Khi còn sống ở đời này, Chúa Kitô đã lớn tiếng rơi lệ dâng lời
cầu xin khẩn nguyện lên Ðấng có thể cứu mình khỏi chết, và vì lòng
thành kính, Người đã được nhậm lời. Dầu là Con Thiên Chúa,
Người đã học vâng phục do những đau khổ Người chịu, và khi hoàn
tất, Người đã trở nên căn nguyên ơn cứu độ đời đời cho tất cả những
kẻ tùng phục Người.
Ðó là lời Chúa. 
Câu Xướng Trước Phúc Âm
Pl 2, 8-9
Chúa Kitô vì chúng ta đã vâng lời cho đến chết, và chết trên
thập giá. Vì thế, Thiên Chúa đã tôn vinh Người, và ban cho Người
một danh hiệu vượt trên mọi danh hiệu.
Phúc Âm
Ga 18, 1 – 19, 42
“Sự Thương Khó Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta”.
C: Người đọc Chung, Thánh Sử.
S: Người đối thoại khác, hoặc Cộng đoàn.
J: Chúa Giêsu.
C. Bài Thương Khó Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, theo
Thánh Gioan.
Khi ấy, Chúa Giêsu đi với môn đệ sang qua suối Xêrông, ở đó
có một khu vườn, Người vào đó cùng với các môn đệ. Giuđa, tên
phản bội, đã biết rõ nơi đó, vì Chúa Giêsu thường đến đấy với các
môn đệ. Nên Giuđa dẫn tới một toán quân cùng với vệ binh do các
thượng tế và biệt phái cấp cho, nó đến đây với đèn đuốc và khí giới.
Chúa Giêsu đã biết mọi sự sẽ xảy đến cho Mình, nên Người tiến ra
và hỏi chúng:
J. “Các ngươi tìm ai?”
C. Chúng thưa lại:
S. “Giêsu Nadarét”.
C. Chúa Giêsu bảo:
J. “Ta đây”.
C. Giuđa là kẻ định nộp Người cũng đứng đó với bọn chúng.
Nhưng khi Người vừa nói “Ta đây”, bọn chúng giật lùi lại và ngã
xuống đất. Người lại hỏi chúng:
J. “Các ngươi tìm ai?”
C. Chúng thưa: 
S. “Giêsu Nadarét”.
C. Chúa Giêsu đáp lại:
J. “Ta đã bảo các ngươi rằng Ta đây! Vậy nếu các ngươi tìm
bắt Ta, thì hãy để cho những người này đi”.
C. Như thế là trọn lời đã nói: “Con chẳng để mất người nào
trong những kẻ Cha đã trao phó cho Con”. Bấy giờ Simon Phêrô có
sẵn thanh gươm, liền rút ra đánh tên đầy tớ vị thượng tế, chém đứt
tai bên phải. Ðầy tớ ấy tên là Mancô. Nhưng Chúa Giêsu bảo Phêrô
rằng:
J. “Hãy xỏ gươm vào bao. Chén Cha Ta đã trao lẽ nào Ta
không uống!”
C. Bấy giờ, toán quân, trưởng toán và vệ binh của người Do
thái bắt Chúa Giêsu trói lại, và điệu Người đến nhà ông Anna trước,
vì ông là nhạc phụ của Caipha đương làm thượng tế năm ấy. Chính
Caipha là người đã giúp ý kiến này cho người Do-thái: để một
người chết thay cho cả dân thì lợi hơn. Còn Phêrô và môn đệ kia
vẫn theo Chúa Giêsu. Môn đệ sau này quen vị thượng tế nên cùng
với Chúa Giêsu vào trong sân vị thượng tế, còn Phêrô đứng lại
ngoài cửa. Vì thế, môn đệ kia là người quen với vị thượng tế, nên đi
ra nói với người giữ cửa và dẫn Phêrô vào. Cô nữ tì gác cửa liền bảo
Phêrô:
S. “Có phải ông cũng là môn đệ của người đó không?”
C. Ông đáp:
S. “Tôi không phải đâu”.
C. Ðám thủ hạ và vệ binh có nhóm một đống lửa và đứng đó
mà sưởi vì trời lạnh, Phêrô cũng đứng sưởi với họ. Vị thượng tế hỏi
Chúa Giêsu về môn đệ và giáo lý của Người. Chúa Giêsu đáp:
J. “Tôi đã nói công khai trước mặt thiên hạ, Tôi thường giảng
dạy tại hội đường và trong đền thờ, nơi mà các người Do-thái
thường tụ họp, Tôi không nói chi thầm lén cả. Tại sao ông lại hỏi 
Tôi? Ông cứ hỏi những người đã nghe Tôi về những điều Tôi đã
giảng dạy. Họ đã quá rõ điều Tôi nói”.
C. Nghe vậy, một tên vệ binh đứng đó vả mặt Chúa Giêsu mà
nói:
S. “Anh trả lời vị thượng tế như thế ư”.
C. Chúa Giêsu đáp:
J. “Nếu Ta nói sai, hãy chứng minh điều sai đó; mà nếu Ta nói
phải, thì tại sao anh lại đánh Ta?”
C. Rồi Anna cho giải Người vẫn bị trói đến cùng vị thượng tế
Caipha. Lúc ấy Phêrô đang đứng sưởi. Họ bảo ông:
S. “Có phải ông cũng là môn đệ người đó không?”
C. Ông chối và nói:
S. “Tôi không phải đâu”.
C. Một tên thủ hạ của vị thượng tế, có họ với người bị Phêrô
chém đứt tai, cãi lại rằng:
S. “Tôi đã chẳng thấy ông ở trong vườn cùng với người đó
sao?”
C. Phêrô lại chối nữa, và ngay lúc đó gà liền gáy.
Bấy giờ họ điệu Chúa Giêsu từ nhà Caipha đến pháp đình. Lúc
đó tảng sáng và họ không vào pháp đình để khỏi bị nhơ bẩn và để
có thể ăn Lễ Vượt Qua. Lúc ấy Philatô ra ngoài để gặp họ và nói:
S. “Các ngươi tố cáo người này về điều gì”.
C. Họ đáp:
S. “Nếu hắn không phải là tay gian ác, chúng tôi đã không nộp
cho quan”.
C. Philatô bảo họ:
S. “Các ông cứ bắt và xét xử theo luật của các ông”.
C. Nhưng người Do-thái đáp lại: 
S. “Chúng tôi chẳng có quyền giết ai cả”.
C. Thế mới ứng nghiệm lời Chúa Giêsu đã nói trước: Người sẽ
phải chết cách nào. Bấy giờ Philatô trở vào pháp đình gọi Chúa
Giêsu đến mà hỏi:
S. “Ông có phải là Vua dân Do-thái không?”
C. Chúa Giêsu đáp:
J. “Quan tự ý nói thế, hay là có người khác nói với quan về
tôi?”
C. Philatô đáp:
S. “Ta đâu phải là người Do-thái. Nhân dân ông cùng các
thượng tế đã trao nộp ông cho ta. Ông đã làm gì?”
C. Chúa Giêsu đáp:
J. “Nước tôi không thuộc về thế gian này. Nếu nước tôi thuộc
về thế gian này, thì những người của tôi đã chiến đấu để tôi không
bị nộp cho người Do-thái, nhưng nước tôi không thuộc chốn này”.
C. Philatô hỏi lại:
S. “Vậy ông là Vua ư?”
C. Chúa Giêsu đáp:
J. “Quan nói đúng: Tôi là Vua. Tôi sinh ra và đến trong thế
gian này là chỉ để làm chứng về Chân lý. Ai thuộc về Chân lý thì
nghe tiếng tôi”.
C. Philatô bảo Người:
S. “Chân lý là cái gì?”
C. Nói lời này xong, ông lại ra gặp người Do-thái và bảo họ:
S. “Ta không thấy nơi người này có lý do để khép án. Nhưng
theo tục lệ các ngươi, ta sẽ phóng thích cho các ngươi một tù nhân
vào dịp Lễ Vượt Qua. Vậy các ngươi có muốn ta phóng thích Vua
Do-thái cho các ngươi chăng?”
C. Họ liền la lên: 
S. “Không phải tên đó, nhưng là Baraba”.
C. Baraba là một tên cướp. Bấy giờ Philatô truyền đem Chúa
Giêsu đi mà đánh đòn Người. Binh sĩ kết một triều thiên bằng gai
nhọn đội lên đầu Người và nói:
S. “Tâu Vua Do-thái!”
C. Và vả mặt Người. Philatô lại ra ngoài và nói:
S. “Ðây ta cho dẫn người ấy ra ngoài cho các ngươi để các
ngươi biết rằng ta không thấy nơi người ấy một lý do để kết án”.
C. Bấy giờ Chúa Giêsu đi ra, đội mão gai và khoác áo đỏ.
Philatô bảo họ:
S. “Này là Người”.
C. Vừa thấy Người, các thượng tế và vệ binh liền la to:
S. “Ðóng đinh nó vào thập giá! Ðóng đinh nó vào thập giá!”
C. Philatô bảo họ:
S. “Ðấy các ngươi cứ bắt và đóng đinh ông vào thập giá, phần
ta, ta không thấy lý do nào kết tội ông”.
C. Người Do-thái đáp lại:
S. “Chúng tôi đã có luật, và theo luật đó nó phải chết, vì nó tự
xưng là Con Thiên Chúa”.
C. Nghe lời đó Philatô càng hoảng sợ hơn. Ông trở vào pháp
đình và nói với Chúa Giêsu:
S. “Ông ở đâu đến?”
C. Nhưng Chúa Giêsu không đáp lại câu nào. Bấy giờ Philatô
bảo Người:
S. “Ông không nói với ta ư? Ông không biết rằng ta có quyền
đóng đinh ông vào thập giá và cũng có quyền tha ông sao?”
C. Chúa Giêsu đáp: 
J. “Quan chẳng có quyền gì trên tôi, nếu từ trên không ban
xuống cho, vì thế nên kẻ nộp tôi cho quan, mắc tội nặng hơn”.
C. Từ lúc đó Philatô tìm cách tha Người. Nhưng người Do-thái
la lên:
S. “Nếu quan tha cho nó, quan không phải là trung thần của
Xêsa, vì ai xưng mình là vua, kẻ đó chống lại Xêsa”.
C. Philatô vừa nghe lời đó, liền cho điệu Chúa Giêsu ra ngoài
rồi ông lên ngồi toà xử, nơi gọi là Nền đá, tiếng Do-thái gọi là
Gabbatha. Lúc đó vào khoảng giờ thứ sáu ngày chuẩn bị Lễ Vượt
Qua. Philatô bảo dân:
S. “Ðây là vua các ngươi”.
C. Nhưng họ càng la to:
S. “Giết đi! Giết đi! Ðóng đinh nó đi!”
C. Philatô nói:
S. “Ta đóng đinh vua các ngươi ư?”
C. Các thượng tế đáp:
S. “Chúng tôi không có vua nào khác ngoài Xêsa”.
C. Bấy giờ quan giao Người cho họ đem đóng đinh.
Vậy họ điệu Chúa Giêsu đi. Và chính Người vác thập giá đến
nơi kia gọi là Núi Sọ, tiếng Do-thái gọi là Golgotha. Ở đó họ đóng
đinh Người trên thập giá cùng với hai người khác nữa: mỗi người
một bên, còn Chúa Giêsu thì ở giữa. Philatô cũng viết một tấm bảng
và sai đóng trên thập giá. Bảng mang những hàng chữ này: “Giêsu,
Nadarét, vua dân Do-thái”. Nhiều người Do-thái đọc được bảng đó,
vì nơi Chúa Giêsu chịu đóng đinh thì gần thành phố, mà bảng viết
thì bằng tiếng Do-thái, Hy-lạp và La-tinh. Vì thế các thượng tế đến
thưa với Philatô:
S. Xin đừng viết “Vua dân Do Thái”, nhưng nên viết: “Người
này đã nói: ‘Ta là vua dân Do-thái’“. 
C. Philatô đáp:
S. “Ðiều ta đã viết là đã viết”.
C. Khi quân lính đã đóng đinh Chúa Giêsu trên thập giá rồi thì
họ lấy áo Người chia làm bốn phần cho mỗi người một phần, còn
cái áo dài là áo không có đường khâu, đan liền từ trên xuống dưới.
Họ bảo nhau:
S. “Chúng ta đừng xé áo này, nhưng hãy rút thăm xem ai được
thì lấy”.
C. Hầu ứng nghiệm lời Kinh Thánh: “Chúng đã chia nhau các
áo Ta và đã rút thăm áo dài của Ta”. Chính quân lính đã làm điều
đó.
Ðứng gần thập giá Chúa Giêsu, lúc đó có Mẹ Người, cùng với
chị Mẹ Người là Maria, vợ ông Clopas và Maria Mađalêna. Khi
thấy Mẹ và bên cạnh có môn đệ Người yêu, Chúa Giêsu thưa cùng
Mẹ rằng:
J. “Hỡi Bà, này là con Bà”.
C. Rồi Người lại nói với môn đệ:
J. “Này là Mẹ con”.
C. Và từ giờ đó môn đệ đã lãnh nhận Bà về nhà mình. Sau đó,
vì biết rằng mọi sự đã hoàn tất, để lời Kinh Thánh được ứng
nghiệm, Chúa Giêsu nói:
J. “Ta khát!”
C. Ở đó có một bình đầy dấm. Họ liền lấy miếng bông biển
thấm đầy dấm cắm vào đầu ngành cây hương thảo đưa lên miệng
Người. Khi đã nếm dấm rồi, Chúa Giêsu nói:
J. “Mọi sự đã hoàn tất”.
C. Và Người gục đầu xuống trút hơi thở cuối cùng.
(Quỳ gối thinh lặng thờ lạy trong giây lát) 
Hôm đó là ngày chuẩn bị lễ: để tội nhân khỏi treo trên thập giá
trong ngày Sabbat, vì ngày Sabbat là ngày đại lễ, nên người Do-thái
xin Philatô cho đánh dập ống chân tội nhân và cho cất xác xuống.
Quân lính đến đánh dập ống chân của người thứ nhất và người thứ
hai cùng chịu treo trên thập giá với Người. Nhưng lúc họ đến gần
Chúa Giêsu, họ thấy Người đã chết, nên không đánh dập ống chân
Người nữa, tuy nhiên một tên lính lấy giáo đâm cạnh sườn Người;
tức thì máu cùng nước chảy ra. Kẻ đã xem thấy thì đã minh chứng,
mà lời chứng của người đó chân thật, và người đó biết rằng mình
nói thật để cho các người cũng tin nữa. Những sự việc này đã xảy ra
để ứng nghiệm lời Kinh Thánh: “Người ta sẽ không đánh dập một
cái xương nào của Người”. Lời Kinh Thánh khác rằng: “Họ sẽ nhìn
xem Ðấng họ đã đâm thâu qua”.
Sau đó, Giuse người xứ Arimathia, môn đệ Chúa Giêsu, nhưng
thầm kín vì sợ người Do-thái, xin Philatô cho phép cất xác Chúa
Giêsu. Philatô cho phép. Và ông đến cất xác Chúa Giêsu. Nicôđêmô
cũng đến, ông là người trước kia đã đến gặp Chúa Giêsu ban đêm.
Ông đem theo chừng một trăm cân mộc dược trộn lẫn với trầm
hương. Họ lấy xác Chúa Giêsu và lấy khăn bọc lại cùng với thuốc
thơm theo tục khâm liệm người Do-thái. Ở nơi Chúa chịu đóng đinh
có cái vườn và trong vườn có một ngôi mộ mới, chưa chôn cất ai. Vì
là ngày chuẩn bị lễ của người Do-thái và ngôi mộ lại rất gần, nên họ
đã mai táng Chúa Giêsu trong mộ đó.
Đó là lời Chúa.

04.04.2026 – LỄ PHỤC SINH
THỨ BẢY TUẦN THÁNH (LỄ ÐÊM)
ÐÊM THÁNH VỌNG CHÚA PHỤC SINH
(Ðề nghị đọc chín bài đọc, bảy bài Trích ở Cựu Ước và hai bài trích
ở Tân Ước. Nếu hoàn cảnh không cho phép, và khi có lý do đặc biệt, có
thể bớt số bài đọc. Nhưng phải đọc ít là ba bài trích ở Cựu Ước trước
Thánh Thư và Tin Mừng; còn nếu gấp quá, thì đọc ít là hai bài đọc trước
Thánh Thư và Tin Mừng. Nhưng không khi nào được bỏ bài trích sách
Xuất Hành (Xh 14, 15 – 15, 1) nói về việc qua Biển Ðỏ.)
Bài Ðọc 1
St 1, 1 – 2, 2 {hoặc 1, 1. 26-31a}
“Thiên Chúa thấy mọi sự Người đã làm thật là tốt đẹp”.
Trích sách Sáng Thế.
Từ nguyên thuỷ Thiên Chúa đã tạo thành trời đất. Ðất còn
hoang vu trống rỗng, tối tăm bao trùm vực thẳm, và thần trí Thiên
Chúa bay sà trên mặt nước.
Thiên Chúa phán: “Hãy có ánh sáng”. Và có ánh sáng. Thiên
Chúa thấy ánh sáng tốt đẹp, Người phân rẽ ánh sáng khỏi tối tăm.
Thiên Chúa gọi ánh sáng là ngày, tối tăm là đêm. Qua một buổi
chiều và một buổi sáng: đó là ngày thứ nhất.
Thiên Chúa phán: “Hãy có một vòm trời ở giữa nước, phân rẽ
nước với nước”; và Thiên Chúa làm nên vòm trời, và phân rẽ nước
phía dưới vòm trời với nước phía trên vòm trời. Và xảy ra như vậy.
Thiên Chúa gọi vòm đó là trời. Qua một buổi chiều và một buổi
sáng: đó là ngày thứ hai.
Thiên Chúa phán: “Nước dưới trời hãy tụ lại một nơi, để lộ ra
chỗ khô cạn. Và đã xảy ra như vậy. Thiên Chúa gọi chỗ khô cạn là
đất, và Người gọi khối nước là biển. Thiên Chúa thấy tốt đẹp. Và
Thiên Chúa phán: “Ðất hãy trổ sinh thảo mộc xanh tươi mang hạt
giống; và cây ăn trái phát sinh trái theo giống nó, và trong trái có hạt
giống, trên mặt đất. Và đã xảy ra như vậy. Tức thì đất sản xuất thảo
mộc xanh tươi mang hạt theo giống nó, và cây phát sinh trái trong 
có hạt tuỳ theo loại nó. Và Thiên Chúa thấy nó tốt đẹp. Qua một
buổi chiều và một buổi sáng: đó là ngày thứ ba.
Thiên Chúa còn phán: “Hãy có những vật sáng trên vòm trời và
hãy phân chia ngày và đêm, và trở thành dấu chỉ thời gian, ngày và
năm tháng, để soi sáng trên vòm trời và giãi sáng mặt đất”. Và đã
xảy ra như vậy. Thiên Chúa đã làm nên hai vầng sáng lớn: Vầng
sáng lớn hơn làm chủ ban ngày, và vầng sáng nhỏ hơn làm chủ ban
đêm; Và Ngài cũng làm nên các tinh tú. Thiên Chúa đặt chúng trên
vòm trời để soi sáng trên mặt đất, và làm chủ ngày đêm, và phân
chia ánh sáng với tối tăm. Thiên Chúa thấy nó tốt đẹp. Qua một
buổi chiều và một buổi sáng: đó là ngày thứ tư.
Thiên Chúa lại phán: “Nước hãy sản xuất những sinh vật bò sát,
và loài chim bay trên mặt đất, dưới vòm trời. Vậy Thiên Chúa tạo
thành những cá lớn, mọi sinh vật sống động mà nước sản xuất theo
loại chúng, và mọi chim bay tuỳ theo giống. Thiên Chúa thấy chúng
tốt đẹp. Thiên Chúa chúc phúc cho chúng rằng: “Hãy sinh sôi nẩy
nở cho nhiều, đầy nước biển; loài chim hãy sinh cho nhiều trên mặt
đất”. Qua một buổi chiều và một buổi sáng: đó là ngày thứ năm.
Thiên Chúa lại phán: “Ðất hãy sản xuất các sinh vật tuỳ theo
giống: gia súc, loài bò sát và dã thú dưới đất tuỳ theo loại”. Và đã
xảy ra như vậy. Thiên Chúa đã dựng nên dã thú dưới đất tuỳ theo
loại, gia súc, và mọi loài bò sát dưới đất tuỳ theo giống. Thiên Chúa
thấy chúng tốt đẹp. Và Thiên Chúa phán: “Chúng ta hãy dựng nên
con người theo hình ảnh giống như Ta, để chúng làm chủ cá biển,
chim trời, dã thú khắp mặt đất và tất cả loài bò sát di chuyển trên
mặt đất”.
Vậy Thiên Chúa đã tạo thành con người giống hình ảnh Chúa,
Chúa tạo thành con người giống hình ảnh Thiên Chúa. Người tạo
thành họ có nam có nữ.
Thiên Chúa chúc phúc cho họ và phán rằng: “Hãy sinh sôi nẩy
nở cho nhiều, đầy mặt đất, và thống trị nó; hãy bá chủ cá biển, chim 
trời và toàn thể sinh vật di chuyển trên mặt đất”. Thiên Chúa phán:
“Ðây Ta ban cho các ngươi làm thức ăn mọi thứ cây cỏ mang hạt
giống trên mặt đất và toàn thể thảo mộc sinh trái có hạt tuỳ theo
giống. Ta ban mọi thứ cây cỏ xanh tươi làm thức ăn cho mọi loài dã
thú trên mặt đất, chim trời và toàn thể sinh vật di chuyển trên mặt
đất”. Và đã xảy ra như vậy. Thiên Chúa thấy mọi sự Người đã làm
rất tốt đẹp. Qua một buổi chiều và một buổi sáng: đó là ngày thứ
sáu.
Thế là trời đất và mọi trang điểm của chúng đã hoàn thành.
Ngày thứ bảy Thiên Chúa đã hoàn tất công việc Người đã làm. Và
sau khi hoàn tất công việc Người đã làm, thì ngày thứ bảy Người
nghỉ ngơi.
Ðó là lời Chúa.
Hoặc bài vắn này
Trích sách Sáng Thế.
St 1, 1. 26-31a
Từ nguyên thuỷ Thiên Chúa đã tạo thành trời đất. Và Thiên
Chúa phán: “Chúng ta hãy dựng nên con người theo hình ảnh giống
như Ta, để chúng làm chủ cá biển, chim trời, dã thú khắp mặt đất và
tất cả loài bò sát di chuyển trên mặt đất”. Vậy Thiên Chúa đã tạo
thành con người giống hình ảnh Chúa, Chúa tạo thành con người
giống hình ảnh Thiên Chúa. Người tạo thành họ có nam có nữ.
Thiên Chúa chúc phúc cho họ và phán rằng: “Hãy sinh sôi nẩy
nở cho nhiều, đầy mặt đất, và thống trị nó; hãy bá chủ cá biển, chim
trời và toàn thể sinh vật di chuyển trên mặt đất”. Thiên Chúa phán:
“Ðây Ta ban cho các ngươi làm thức ăn mọi thứ cây cỏ mang hạt
giống trên mặt đất và toàn thể thảo mộc sinh trái có hạt tuỳ theo
giống. Ta ban mọi thứ cây cỏ xanh tươi làm thức ăn cho mọi loài dã
thú trên mặt đất, chim trời và toàn thể sinh vật di chuyển trên mặt
đất”. Và đã xảy ra như vậy. Thiên Chúa thấy mọi sự Người đã làm
rất tốt đẹp.
Ðó là lời Chúa. 
Ðáp Ca
Tv 32, 4-5. 6-7. 12-13. 20 và 22
Ð. Ðịa cầu đầy ân sủng Chúa (c. 5b).
1) Vì lời Chúa là lời chân chính, bao việc Chúa làm đều đáng
cậy tin. Chúa yêu chuộng điều công minh chính trực, địa cầu đầy ân
sủng Chúa.
Ð. Ðịa cầu đầy ân sủng Chúa (c. 5b).
2) Do lời Chúa mà trời xanh được tạo thành, và mọi cơ binh
chúng đều do hơi thở miệng Người. Chúa thu nước biển lại như để
trong bầu, Người đặt những ngọn sóng trong kho chứa đựng.
Ð. Ðịa cầu đầy ân sủng Chúa (c. 5b).
3) Phúc thay quốc gia mà Chúa là chúa tể, dân tộc mà Chúa
chọn làm cơ nghiệp riêng mình. Tự trời cao Chúa nhìn xuống,
Người xem thấy hết thảy con cái loài người.
Ð. Ðịa cầu đầy ân sủng Chúa (c. 5b).
4) Linh hồn chúng tôi mong đợi Chúa, chính Người là Ðấng
phù trợ và che chở chúng tôi. – Lạy Chúa, xin đổ lòng từ bi xuống
trên chúng con, theo như chúng con tin cậy ở nơi Ngài.
Ð. Ðịa cầu đầy ân sủng Chúa (c. 5b).
Bài Ðọc 2 (Bài dài)
St 22, 1-18
“Của lễ hiến tế của Abraham, Tổ phụ chúng ta”.
Trích sách Sáng Thế.
Trong những ngày ấy, Chúa thử Abraham và nói với ông rằng:
“Abraham, Abraham”. Ông đáp lại: “Dạ, con đây”. Chúa nói:
“Ngươi hãy đem Isaac, đứa con một yêu dấu của ngươi, và đi đến
đất Moria, ở đó ngươi sẽ dâng nó làm của lễ toàn thiêu trên núi Ta
sẽ chỉ cho ngươi”. Sáng ngày, Abraham dậy sớm, thắng lừa và đem
theo hai đứa đầy tớ của ông, cùng với Isaác con ông, ông chẻ củi
dùng vào lễ thượng hiến, đoạn ông lên đường đến chỗ Thiên Chúa
đã tỏ cho ông. 
Ngày thứ ba, Abraham ngước mắt lên và thấy chỗ ấy từ đàng
xa. Abraham mới bảo tôi tớ: “Các anh ở lại đây với con lừa; còn ta
và đứa trẻ, chúng ta phải đi tới đằng kia mà thờ lạy, rồi chúng tôi sẽ
về lại với các anh”. Abraham lấy củi lễ thượng hiến và cho Isaác
vác đi, còn ông thì cầm lấy lửa và dao phay, rồi cả hai cùng bước.
Isaác cất tiếng nói với Abraham cha cậu rằng: “Cha!” Ông đáp: “Ta
đây, con!” Cậu hỏi: “Này đây đã có lửa và củi, vậy hy sinh thượng
hiến ở đâu?” Abraham đáp: “Chính Thiên Chúa sẽ tự liệu ra hy sinh
thượng hiến, con ạ”. Rồi cả hai cùng bước.
Khi hai người đến nơi Chúa đã chỉ, Abraham làm một bàn thờ
và chất củi lên, rồi trói Isaac lại, đặt lên bàn thờ trên đống củi.
Abraham giơ tay lấy dao để sát tế con mình. Bấy giờ thiên thần
Chúa từ trời gọi ông rằng: “Abraham! Abraham!” Ông thưa lại:
“Dạ, con đây”. Người nói: “Ðừng giết con trẻ và đừng động đến nó,
vì giờ đây, Ta biết ngươi kính sợ Chúa, đến nỗi không từ chối dâng
đứa con duy nhất cho Ta”. Abraham ngước mắt lên, thấy sau lưng
mình có con cừu đực đang mắc sừng trong bụi cây, Abraham liền
bắt nó và tế lễ thay cho con mình. Chỗ ấy Abraham gọi tên là
“Thiên Chúa sẽ liệu”, khiến ngày nay người ta còn nói: “Trên núi
Thiên Chúa sẽ liệu”.
Thiên thần Chúa gọi Abraham lần thứ hai và nói rằng: “Chúa
phán: Ta thề rằng: vì ngươi đã làm điều đó, ngươi không từ chối
dâng đứa con duy nhất của ngươi cho Ta, nên Ta chúc phúc cho
ngươi. Ta cho ngươi sinh sản con cái đông đúc như sao trên trời,
như cát bãi biển; miêu duệ ngươi sẽ chiếm cửa thành quân địch, và
mọi dân tộc trên mặt đất sẽ được chúc phúc nơi miêu duệ ngươi, vì
ngươi đã vâng lời Ta”.
Ðó là lời Chúa. 
Hoặc đọc bài vắn này
Trích sách Sáng Thế.
St 22, 1-2. 9a. 10-13. 15-18
Trong những ngày ấy, Chúa thử Abraham và nói với ông rằng:
“Abraham, Abraham”. Ông đáp lại: “Dạ, con đây”. Chúa nói:
“Ngươi hãy đem Isaac, đứa con một yêu dấu của ngươi, và đi đến
đất Moria, ở đó ngươi sẽ dâng nó làm của lễ toàn thiêu trên núi Ta
sẽ chỉ cho ngươi”.
Khi hai người đến nơi Chúa đã chỉ, Abraham làm một bàn thờ
và chất củi lên, rồi trói Isaac lại, đặt lên bàn thờ trên đống củi.
Abraham giơ tay lấy dao để sát tế con mình. Bấy giờ thiên thần
Chúa từ trời gọi ông rằng: “Abraham! Abraham!” Ông thưa lại:
“Dạ, con đây”. Người nói: “Ðừng giết con trẻ và đừng động đến nó,
vì giờ đây, Ta biết ngươi kính sợ Chúa, đến nỗi không từ chối dâng
đứa con duy nhất cho Ta”. Abraham ngước mắt lên, thấy sau lưng
mình có con cừu đực đang mắc sừng trong bụi cây, Abraham liền
bắt nó và tế lễ thay cho con mình.
Thiên thần Chúa gọi Abraham lần thứ hai và nói rằng: “Chúa
phán: Ta thề rằng: vì ngươi đã làm điều đó, ngươi không từ chối
dâng đứa con duy nhất của ngươi cho Ta, nên Ta chúc phúc cho
ngươi. Ta cho ngươi sinh sản con cái đông đúc như sao trên trời,
như cát bãi biển; miêu duệ ngươi sẽ chiếm cửa thành quân địch, và
mọi dân tộc trên mặt đất sẽ được chúc phúc nơi miêu duệ ngươi, vì
ngươi đã vâng lời Ta”.
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca
Tv 15, 5 và 8. 9-10. 11
Ð. Lạy Chúa, xin bảo toàn con, vì con tìm nương tựa Chúa (c.
1a).
1) Chúa là phần gia nghiệp và phần chén của con, chính Ngài
nắm giữ vận mạng của con. Con luôn luôn đặt Chúa ở trước mặt
con, vì Chúa ngự bên hữu con, con sẽ không nao núng. 
Ð. Lạy Chúa, xin bảo toàn con, vì con tìm nương tựa Chúa (c.
1a).
2) Bởi thế, lòng con vui mừng và linh hồn con hoan hỉ, ngay cả
đến xác thịt của con cũng nằm nghỉ an toàn, vì Chúa chẳng bỏ rơi
linh hồn con trong âm phủ, cũng không để thánh nhân của Ngài thấy
điều hư nát.
Ð. Lạy Chúa, xin bảo toàn con, vì con tìm nương tựa Chúa (c.
1a).
3) Chúa sẽ chỉ cho con biết đường lối trường sinh, sự no đầy
hoan hỉ ở trước thiên nhan, sự khoái lạc bên tay hữu Chúa tới muôn
muôn đời!
Ð. Lạy Chúa, xin bảo toàn con, vì con tìm nương tựa Chúa (c.
1a).
Bài Ðọc 3
Xh 14, 15 – 15, 1
“Con cái Israel đi vào giữa lòng biển khô cạn”.
Trích sách Xuất Hành.
Trong những ngày ấy, Chúa phán cùng Môsê rằng: “Có gì mà
kêu đến Ta? Hãy bảo con cái Israel cứ lên đường. Còn ngươi, đưa
gậy lên, và giơ tay trên biển, hãy phân rẽ biển ra, cho con cái Israel
đi vào giữa lòng biển khô cạn. Còn Ta, Ta sẽ làm cho lòng người
Ai-cập ra chai đá, chúng sẽ rượt theo sau các ngươi. Bấy giờ Ta sẽ
tỏ vinh quang cho Pharaon, toàn thể quân lực, chiến xa và kỵ binh
của vua ấy biết. Người Ai-cập sẽ biết Ta là Chúa khi Ta tỏ vinh
quang cho Pharaon, chiến xa và kỵ binh của vua ấy biết”.
Sứ thần Thiên Chúa thường đi trước hàng ngũ Israel, liền bỏ trở
lại sau họ. Cột mây thường đi phía trước, cũng theo sứ thần trở lại
phía sau, đứng giữa hàng ngũ Ai-cập và hàng ngũ Israel. Và đám
mây thường soi sáng ban đêm trở thành mù mịt, đến nỗi suốt đêm,
hai bên không thể tới gần được. Môsê giơ tay trên biển, thì bằng
một cơn gió đông thổi mạnh suốt đêm, Chúa dồn biển lui và làm 
cho biển khô cạn. Nước rẽ ra và con cái Israel đi vào giữa lòng biển
khô cạn, nước dựng lên như bức thành hai bên tả hữu.
Người Ai-cập đuổi theo, toàn thể binh mã của Pharaon, chiến
xa và kỵ binh đi theo sau Israel vào giữa lòng biển. Lúc gần sáng,
qua cột mây lửa, Chúa nhìn xuống hàng ngũ Ai-cập, gây rối loạn
trong hàng ngũ chúng. Người lật đổ bánh xe, khiến xe tiến tới thật
vất vả. Người Ai-cập nói: “Ta hãy chạy trốn Israel, vì Chúa chiến
đấu giúp họ, chống chúng ta”.
Chúa phán bảo Môsê: “Hãy giơ tay trên biển để nước trở lại vùi
dập người Ai-cập, chiến xa và kỵ binh của chúng”. Môsê giơ tay
trên biển, và lúc tảng sáng, biển trở lại như cũ. Người Ai-cập chạy
trốn, gặp ngay nước biển ập lại. Chúa xô chúng ngã giữa lòng biển.
Nước trở lại, vùi dập chiến xa và kỵ binh. Toàn thể quân lực của
Pharaon đã theo dân Israel xuống biển, không còn tên nào sống sót.
Còn con cái Israel đã đi giữa lòng biển khô cạn, nước dựng như bức
thành hai bên tả hữu. Ngày đó Chúa cứu Israel khỏi tay Ai-cập. Và
họ thấy xác người Ai-cập trôi dạt đầy bờ, và thấy cánh tay oai hùng
của Thiên Chúa đè bẹp Ai-cập. Toàn dân kính sợ Chúa, tin vào
Chúa và vào Môsê tôi tớ người.
Bấy giờ Môsê cùng với con cái Israel hát mừng Chúa bài ca
này:
(Không đọc: Ðó là lời Chúa).
Ðáp Ca
Xh 15, 1-2. 3-4. 5-6. 17-18
Ð. Tôi sẽ ca tụng Chúa, vì Người uy linh cao cả (c. 1a).
1) Tôi sẽ ca tụng Chúa, vì Người uy linh cao cả. Người đã ném
ngựa và người xuống biển khơi. Chúa là sức mạnh và là khúc ca của
tôi, chính Người đã cho tôi được cứu thoát. Người là Thiên Chúa
tôi, tôi sẽ tôn vinh Người; Người là Chúa tổ phụ tôi, tôi sẽ hát ca
mừng Chúa.
Ð. Tôi sẽ ca tụng Chúa, vì Người uy linh cao cả (c. 1a). 
2) Chúa như là người chiến sĩ, danh thánh Người thật toàn
năng. Người đã ném xe cộ và đạo binh của Pharaon xuống biển, và
dìm xuống Biển Ðỏ các tướng lãnh của ông.
Ð. Tôi sẽ ca tụng Chúa, vì Người uy linh cao cả (c. 1a).
3) Các vực thẳm đã chôn sống họ, họ rơi xuống đáy biển như
tảng đá to. Lạy Chúa, tay hữu Chúa biểu dương sức mạnh; lạy
Chúa, tay hữu Chúa đánh tan quân thù.
Ð. Tôi sẽ ca tụng Chúa, vì Người uy linh cao cả (c. 1a).
4) Chúa đem con cái Israel trồng trên núi gia nghiệp Chúa, nơi
vững chắc Chúa làm nơi cư ngụ, ôi lạy Chúa, là cung thánh tay
Chúa đã lập nên; Chúa sẽ thống trị muôn đời muôn kiếp.
Ð. Tôi sẽ ca tụng Chúa, vì Người uy linh cao cả (c. 1a).
Bài Ðọc 4
“Trong tình yêu vĩnh cửu,
Chúa Cứu Chuộc đã xót thương ngươi”.
Trích sách Tiên tri Isaia.
Is 54, 5-14
Ðấng đã tạo thành ngươi thống trị ngươi, danh Người là Chúa
các cơ binh, Ðấng Cứu Chuộc ngươi là Ðấng Thánh Israel, Người
sẽ được tôn xưng là Thiên Chúa khắp địa cầu.
Thiên Chúa ngươi đã phán: “Chúa gọi ngươi như gọi người
thiếu phụ bị bỏ rơi và sầu muộn, và như người vợ bị bỏ rơi lúc còn
xuân xanh. Trong một thời gian ngắn, Ta đã bỏ ngươi, nhưng Ta sẽ
lấy lượng từ bi cao cả mà tụ họp ngươi lại. Trong lúc nóng giận, Ta
tạm ẩn mặt Ta, nhưng vì lòng nhân từ vô biên, Ta thương xót ngươi,
Chúa là Ðấng cứu chuộc ngươi đã phán như vậy.
Cũng như trong thời Noe, Ta đã thề rằng nước lụt Noe sẽ không
tràn ngập đất nữa, thì Ta cũng đã thề rằng Ta sẽ không giận ngươi,
không quở trách ngươi nữa. 
Dù núi có dời, đồi có di chuyển, tình yêu của Ta đối với ngươi
không thay đổi, và giao ước bình an của Ta cũng sẽ không lay
chuyển, Chúa nhân từ của ngươi đã phán như vậy.
Hỡi thành vô phúc, bị bão táp tàn phá và không ai an ủi, này
đây Ta sẽ sắp xếp các viên đá của ngươi cho trật tự, sẽ đặt nền móng
ngươi trên ngọc thạch, sẽ lấy đá hồng xây cửa đồn ngươi, sẽ lấy
thuỷ tinh làm cửa thành ngươi, sẽ dùng đá quý xây tường thành
ngươi.
Tất cả con cái ngươi sẽ được Chúa dạy bảo, chúng sẽ vui hưởng
một nền hoà bình lâu dài. Ngươi sẽ đứng vững trong công lý, và xa
mọi đàn áp, ngươi sẽ không còn sợ, và sống xa mọi khủng bố, vì sẽ
không có ai hãm hại được ngươi nữa”.
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca
Tv 29, 2 và 4. 5-6. 11 và 12a và 13b
Ð. Lạy Chúa, con ca tụng Chúa vì đã giải thoát con (c. 2a).
1) Lạy Chúa, con ca tụng Chúa vì đã giải thoát con, và không
để quân thù hoan hỉ về con. Lạy Chúa, Ngài đã đưa linh hồn con
thoát xa Âm phủ, Ngài đã cứu con khỏi số người đang bước xuống
mồ.
Ð. Lạy Chúa, con ca tụng Chúa vì đã giải thoát con (c. 2a).
2) Các tín đồ của Chúa, hãy đàn ca mừng Chúa, và hãy cảm tạ
thánh danh Ngài. Vì cơn giận của Ngài chỉ lâu trong giây phút,
nhưng lòng nhân hậu của Ngài vẫn có suốt đời. Chiều hôm có gặp
cảnh lệ rơi, nhưng sáng mai lại được mừng vui hoan hỉ.
Ð. Lạy Chúa, con ca tụng Chúa vì đã giải thoát con (c. 2a).
3) Lạy Chúa, xin nhậm lời và xót thương con. Lạy Chúa, xin
Ngài gia ân cứu giúp con. Chúa đã biến đổi lời than khóc thành
khúc nhạc cho con; lạy Chúa là Thiên Chúa của con, con sẽ tán tụng
Chúa tới muôn đời.
Ð. Lạy Chúa, con ca tụng Chúa vì đã giải thoát con (c. 2a). 
Bài Ðọc 5
Is 55, 1-11
“Hãy đến cùng Ta và hồn các ngươi sẽ được sống.
Ta sẽ ký kết với các ngươi một giao ước vĩnh cửu”.
Trích sách Tiên tri Isaia.
Ðây Chúa phán: Hỡi tất cả những ai khát nước, hãy đến uống
nước; hỡi kẻ không tiền bạc, hãy đến mua lúa mà ăn; hãy đến mà
mua rượu và sữa, không cần trả tiền, không cần đổi chác gì. Tại sao
các ngươi không dùng tiền mà mua bánh, sao không dùng tiền
lương mà mua đồ nuôi thân? Vậy hãy lắng tai nghe, hãy đến ăn đồ
bổ và các ngươi sẽ được thưởng thức món ăn mĩ vị.
Hãy lắng tai và đến cùng Ta, hãy nghe, thì các ngươi sẽ được
sống; Ta sẽ ký kết với các ngươi một giao ước vĩnh cửu, đó là
những hồng ân đã hứa cho Ðavít: Ðây Ta đặt ngươi làm nhân chứng
cho các dân, làm tướng lãnh tôn sư cho các dân tộc. Này ngươi sẽ
kêu gọi dân mà trước ngươi không biết, và các dân trước chưa biết
ngươi, sẽ chạy đến cùng ngươi, vì Chúa là Thiên Chúa ngươi, là
Ðấng Thánh Israel, bởi vì Chúa làm cho ngươi được hiển vinh.
Hãy tìm Chúa khi còn tìm được, hãy kêu cầu Người khi Người
còn ở gần. Kẻ gian ác, hãy bỏ đường lối mình, và kẻ bất lương, hãy
bỏ những tư tưởng mình, hãy trở về với Chúa, thì Người sẽ thương
xót, hãy trở về với Thiên Chúa chúng ta, vì Chúa rộng lòng tha thứ.
Vì tư tưởng Ta không phải tư tưởng các ngươi, và đường lối các
ngươi không phải đường lối của Ta, Chúa phán như vậy. Như trời
cao hơn đất thế nào, thì đường lối Ta vượt trên đường lối các ngươi,
và tư tưởng Ta cũng vượt trên tư tưởng các ngươi thể ấy.
Như mưa tuyết từ trời rơi xuống và không trở lên trời nữa,
nhưng chúng thấm xuống đất, làm cho đất phì nhiêu, cây cối sinh
mầm, cho người gieo có hạt giống, cho người ta có cơm bánh ăn;
cũng thế, lời từ miệng Ta phán ra sẽ không trở lại với Ta mà không
sinh kết quả, nhưng nó thực hiện ý muốn của Ta, và làm tròn sứ
mạng Ta uỷ thác. Ðó là lời Chúa. 
Ðáp Ca
Is 12, 2-3. 4bcd. 5-6
Ð. Các ngươi sẽ hân hoan múc nước nơi suối Ðấng Cứu Ðộ.
(c. 3).
1) Ðây Thiên Chúa là Ðấng Cứu Chuộc tôi, tôi sẽ tin tưởng mà
hành động và không khiếp sợ: vì Chúa là sức mạnh, là Ðấng tôi
ngợi khen, Người sẽ trở nên cho tôi phần rỗi.
Ð. Các ngươi sẽ hân hoan múc nước nơi suối Ðấng Cứu Ðộ.
(c. 3).
2) Hãy ca tụng Chúa và kêu cầu danh Người, hãy công bố cho
các dân biết kỳ công của Chúa, hãy nhớ lại danh Chúa rất cao sang.
Ð. Các ngươi sẽ hân hoan múc nước nơi suối Ðấng Cứu Ðộ.
(c. 3).
3) Hãy ca tụng, vì Người làm nên những việc kỳ diệu, hãy cao
rao việc đó trên khắp hoàn cầu. Hỡi người cư ngụ tại Sion, hãy nhảy
mừng ca hát, vì Ðấng cao cả là Ðấng Thánh Israel ở giữa ngươi.
Ð.
Các ngươi sẽ hân hoan múc nước nơi suối Ðấng Cứu Ðộ.
(c. 3).
Bài Ðọc 6
Br 3, 9-15. 32 – 4, 4
“Ngươi hãy đi trong đường ánh sáng của Chúa”.
Trích sách Tiên tri Barúc.
Hỡi Israel, hãy nghe các giới răn ban sự sống; hãy lắng tai nghe
để hiểu biết sự khôn ngoan.
Hỡi Israel, bởi đâu ngươi ở trong đất nước quân thù, ngươi mòn
mỏi trên đất khách, nhiễm lây nhơ bẩn của người chết, bị liệt vào kẻ
phải xuống địa ngục? Ngươi đã lìa bỏ nguồn khôn ngoan. Vì chưng
nếu ngươi theo đường lối Chúa, thì ngươi đã luôn sống trong bình
an. Ngươi hãy học xem đâu là sự khôn ngoan, đâu là sức mạnh, đâu
là sự thông hiểu, để ngươi cũng hiểu biết đâu là trường thọ và sự
sống, đâu là ánh sáng con mắt và bình an. Ai là người sẽ tìm được
nơi cư ngụ của sự khôn ngoan, ai đi vào trong kho tàng của nó? 
Chính Ðấng thấu suốt mọi sự, Người biết nó: Người thấu suốt nó do
đức khôn ngoan của Người.
Người là Ðấng đã an bài vũ trụ đến muôn đời, và cho các gia
súc và các thú bốn chân sống đầy mặt đất. Người sai ánh sáng đi thì
nó đi, gọi nó lại thì nó run sợ vâng lời Người. Các ngôi sao ở vị trí
mình mà chiếu sáng và đều vui mừng. Người gọi chúng thì chúng
trả lời rằng: “Có mặt”. Chúng vui mừng chiếu sáng trước mặt Ðấng
sáng tạo chúng.
Người là Thiên Chúa chúng ta, và không có chúa nào khác sánh
được với Người. Người đã biết mọi đường lối khôn ngoan, đã ban
nó cho Giacóp tôi tớ Người và cho Israel kẻ người yêu mến. Sau đó,
Người xuất hiện trên mặt đất và sống giữa loài người.
Ðó là sách ghi các giới răn Chúa và lề luật tồn tại muôn đời, tất
cả những ai tuân giữ lề luật thì được sống, còn ai bỏ thì phải chết.
Hỡi Giacóp, hãy trở về và nắm giữ lề luật; hãy nhờ ánh sáng của
Người mà tiến đến sự huy hoàng của Người. Ðừng trao vinh quang
ngươi cho kẻ khác, cũng đừng trao đặc ân ngươi cho dân ngoại. Hỡi
Israel, chúng ta có phúc, vì chúng ta đã được biết những gì là đẹp
lòng Chúa.
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca
Tv 18, 8. 9. 10. 11
Ð. Lạy Chúa, Chúa có lời ban sự sống đời đời (Ga 6, 69).
1) Luật pháp Chúa toàn thiện, bồi bổ tâm linh; chỉ thị Chúa cố
định, phá ngu kẻ dốt.
Ð. Lạy Chúa, Chúa có lời ban sự sống đời đời (Ga 6, 69).
2) Giới răn Chúa chính trực, làm hoan lạc tâm can; mệnh lệnh
Chúa trong ngời, sáng soi con mắt.
Ð. Lạy Chúa, Chúa có lời ban sự sống đời đời (Ga 6, 69).
3) Lòng tôn sợ Chúa thuần khiết, còn mãi muôn đời; phán quyết
của Chúa chân thực, công minh hết thảy. 
Ð. Lạy Chúa, Chúa có lời ban sự sống đời đời (Ga 6, 69).
4) Những điều đó đáng chuộng hơn vàng, hơn cả vàng ròng,
ngọt hơn mật và hơn cả mật chảy từ tàng ong.
Ð. Lạy Chúa, Chúa có lời ban sự sống đời đời (Ga 6, 69).
Bài Ðọc 7
Ed 36, 16-17a. 18-28
“Ta sẽ đổ trên các ngươi nước trong sạch
và sẽ ban cho các ngươi quả tim mới”.
Trích sách Tiên tri Êdêkiel.
Ðây lời Chúa phán cùng tôi rằng: “Hỡi con người, khi dân
Israel cư ngụ trên đất mình, họ đã làm dơ bẩn đất ấy bằng đời sống
và việc làm của họ. Và Ta đã nổi giận họ, vì họ đã đổ máu trên phần
đất ấy, và vì các thần tượng họ thờ làm dơ bẩn phần đất ấy. Ta đã
phân tán họ đi khắp các dân tộc, và cho họ sống rải rác trong các
nước; Ta đã xét xử theo đời sống và việc làm của họ. Họ đã đi đến
các dân tộc và ở đó họ xúc phạm thánh danh Ta, vì thiên hạ nói về
họ rằng: “Này là dân của Chúa, họ bị đuổi ra khỏi đất của Người”.
Và Ta đã thương hại thánh danh Ta mà nhà Israel đã xúc phạm nơi
các dân tộc họ đến cư ngụ.
Vì thế, ngươi hãy nói với nhà Israel rằng: “Ðây Chúa là Thiên
Chúa phán: Hỡi nhà Israel, không phải vì các ngươi mà Ta hành
động, nhưng vì thánh danh Ta đã bị các ngươi xúc phạm nơi các dân
tộc mà các ngươi đi đến cư ngụ. Ta sẽ thánh hoá danh cao cả Ta đã
bị xúc phạm giữa các dân tộc, nơi mà các ngươi đã xúc phạm danh
thánh Ta, để các dân tộc biết Ta là Chúa, Thiên Chúa các đạo binh
phán, khi Ta tự thánh hoá nơi các ngươi trước mặt họ.
Ta sẽ kéo các ngươi ra khỏi các dân tộc, sẽ quy tụ các ngươi từ
các nước, và dẫn dắt các ngươi trên đất các ngươi. Ta sẽ dùng nước
trong sạch mà rảy trên các ngươi, và các ngươi sẽ được rửa sạch
mọi vết nhơ. Ta sẽ thanh tẩy các ngươi sạch mọi vết nhơ các bụt
thần. 
Ta sẽ ban cho các ngươi quả tim mới, đặt giữa các ngươi một
thần trí mới, cất khỏi xác các ngươi quả tim bằng đá và ban cho các
ngươi quả tim bằng thịt. Ta đặt thần trí Ta giữa các ngươi, làm cho
các ngươi thực thi các huấn lệnh Ta, làm cho các ngươi tuân giữ và
thực hành các lề luật Ta. Các ngươi sẽ cư ngụ trong xứ Ta đã ban
cho tổ phụ các ngươi; các ngươi sẽ là dân Ta, còn Ta, Ta sẽ là Thiên
Chúa các ngươi”.
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca
Tv 41, 3. 5bcd; Tv 42, 3. 4
Ð. Như nai rừng khát mong nguồn nước, hồn con khát Chúa,
Chúa Trời ôi! (c. 41, 2)
1) Hồn con khát Chúa Trời, Chúa Trời hằng sống: ngày nào con
được tìm về ra mắt Chúa Trời?
Ð. Như nai rừng khát mong nguồn nước, hồn con khát Chúa,
Chúa Trời ôi! (c. 41, 2)
2) Tôi nhớ lúc xưa đi giữa muôn người, tôi đứng đầu đưa dân
tiến vào nhà Ðức Chúa Trời, giữa muôn tiếng reo mừng, ca ngợi.
Ð. Như nai rừng khát mong nguồn nước, hồn con khát Chúa,
Chúa Trời ôi! (c. 41, 2)
3) Xin chiếu giãi quang minh và chân thực của Chúa, để những
điều đó hướng dẫn con, đưa con lên núi thánh và cung lâu của Ngài.
Ð. Như nai rừng khát mong nguồn nước, hồn con khát Chúa,
Chúa Trời ôi! (c. 41, 2)
4) Con sẽ tiến tới bàn thờ Thiên Chúa, đến cùng Thiên Chúa
làm cho con được hoan hỉ mừng vui. Với cây cầm thụ, con sẽ ca
ngợi Chúa, ôi Chúa là Thiên Chúa của con.
Ð. Như nai rừng khát mong nguồn nước, hồn con khát Chúa,
Chúa Trời ôi! (c. 41, 2) 
Hoặc (khi có Rửa tội)
Tv 50, 12-13. 14-15. 18-19
Ð. Ôi lạy Chúa, xin tạo cho con quả tim trong sạch (c. 12a).
1) Ôi lạy Chúa, xin tạo cho con quả tim trong sạch, và canh tân
tinh thần cương nghị trong người con. Xin đừng loại con khỏi thiên
nhan Chúa, chớ thu hồi Thánh Thần Chúa ra khỏi con.
Ð. Ôi lạy Chúa, xin tạo cho con quả tim trong sạch (c. 12a).
2) Xin Chúa lại cho con niềm vui ơn cứu độ, với tinh thần
quảng đại, Chúa đỡ nâng con. Con sẽ dạy kẻ bất nhân đường nẻo
Chúa, và người tội lỗi sẽ trở về với Ngài.
Ð. Ôi lạy Chúa, xin tạo cho con quả tim trong sạch (c. 12a).
3) Bởi vì Chúa chẳng ưa gì sinh lễ, nếu con dâng lễ toàn thiêu,
Chúa sẽ không ưng. Của lễ con dâng, lạy Chúa, là tâm hồn tan nát;
lạy Chúa, xin đừng chê tấm lòng tan nát, khiêm cung.
Ð. Ôi lạy Chúa, xin tạo cho con quả tim trong sạch (c. 12a).
Bài Ðọc Thánh Thư
Rm 6, 3-11
“Chúa Kitô, một khi tự trong cõi chết sống lại,
Người không chết nữa”.
Trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Rôma.
Anh em thân mến, tất cả chúng ta đã chịu phép rửa trong Ðức
Giêsu Kitô, tức là đã chịu phép rửa trong sự chết của Người. Và
chúng ta đã cùng chịu mai táng với Người, bởi được thanh tẩy trong
sự chết của người, để như Ðức Kitô nhờ vinh hiển của Chúa Cha mà
sống lại từ cõi chết thế nào, thì cả chúng ta cũng phải sống đời sống
mới như thế.
Vì nếu chúng ta được liên kết với Người trong cùng một cái
chết, giống như cái chết của Người, thì chúng ta cũng được hợp nhất
với Người, trong sự sống lại giống như vậy. Nên biết điều này: con
người cũ của chúng ta đã cùng chịu đóng đinh khổ giá, để xác thịt
tội lỗi bị huỷ đi, hầu cho chúng ta không còn làm nô lệ tội lỗi nữa,
vì con người đã chết, tức là được giải thoát khỏi tội lỗi. 
Mà nếu chúng ta đã chết với Ðức Kitô, chúng ta tin rằng chúng
ta cũng sẽ cùng sống với Người, vì biết rằng Ðức Kitô, một khi từ
cõi chết sống lại, Người không chết nữa, sự chết không còn làm chủ
được Người nữa. Người đã chết, tức là chết một lần dứt khoát đối
với tội lỗi, mà khi Người sống, là sống cho Thiên Chúa. Cả anh em
cũng thế, anh em hãy tự kể như mình đã chết đối với tội lỗi, nhưng
sống cho Thiên Chúa, trong Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta.
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca
Ð. Alleluia, alleluia, alleluia.
Tv 117, 1-2. 16ab-17. 22-23
1) Hãy cảm tạ Chúa, vì Chúa hảo tâm, vì đức từ bi của Người
muôn thuở. Hỡi nhà Israel, hãy xướng lên: “Ðức từ bi của Người
muôn thuở”.
Ð. Alleluia, alleluia, alleluia.
2) Tay hữu Chúa đã hành động mãnh liệt, tay hữu Chúa đã cất
nhắc tôi lên. Tôi không chết, nhưng tôi sẽ sống, và tôi sẽ loan truyền
công cuộc của Chúa.
Ð. Alleluia, alleluia, alleluia.
3) Phiến đá mà những người thợ xây loại bỏ, đã biến nên tảng
đá góc tường. Việc đó đã do Chúa làm ra, việc đó kỳ diệu trước mắt
chúng ta.
Ð. Alleluia, alleluia, alleluia. 
Phúc Âm Năm A
Mt 28, 1-10
“Ngài đã sống lại và sẽ đến xứ Galilêa”.
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.
Qua chiều ngày Sabbat, khi ngày thứ nhất trong tuần vừa tảng
sáng, Maria Mađalêna và bà Maria khác đến thăm mồ. Bỗng chốc
đất chuyển mạnh vì Thiên Thần Chúa từ trời xuống và đến lăn tảng
đá ra, rồi ngồi lên trên đó. Mặt Người sáng như chớp và áo Người
trắng như tuyết. Vì thế những lính canh khiếp đảm run sợ và hầu
như chết. Nhưng Thiên Thần lên tiếng và bảo các người nữ rằng:
“Các bà đừng sợ. Ta biết các bà tìm Chúa Giêsu, Người đã chịu
đóng đinh. Người không có ở đây vì Người đã sống lại như lời
Người đã nói. Các bà hãy đến mà coi nơi đã đặt Người và đi ngay
bảo các môn đệ Người rằng: Người đã sống lại, và kìa Người đến
xứ Galilêa trước các ông: Ở đó các ông sẽ gặp Người. Ðây Ta đã
báo trước cho các bà hay”.
Hai bà vội ra khỏi mồ, vừa sợ lại vừa hớn hở vui mừng, chạy
báo tin cho các môn đệ Người. Và này Chúa Giêsu đón gặp các bà,
Người nói: “Chào các bà”. Các bà liền lại gần ôm chân Người và
phục lạy. Bấy giờ Chúa Giêsu bảo: “Các bà đừng sợ. Hãy đi báo tin
cho các anh em Ta phải trở về Galilêa, rồi ở đó, họ sẽ gặp Ta”.
Ðó là lời Chúa.